vanban.org

Bản án 36/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt Trần Thị Ngọc M 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vu án hình sự - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2017/HSST
Ngày: 29/6/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƢƠNG

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung.

* Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mai - Cán bộ hƣu trí phƣờng Bến Tắm, thị xã Chí Linh

2. Bà Hoàng Thị Thu Thảo - Giáo viên trƣờng PTTH Chí Linh.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hƣơng - Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 29/6/2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phƣờng S, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng mở phiên toà lƣu động xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2017/HSST ngày 17/5/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1987

Nơi ĐKNKTT: Khu dân cƣ L, phƣờng T, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng; Nơi ở hiện nay: Số nhà 10, đƣờng T, khu dân cƣ T, phƣờng S, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông Trần Khắc Q và bà Trần Thị L; Có chồng là Đỗ Văn D (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 04/01/2017 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Công an thị xã c, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính (Quyết định số: 97/QĐ-XPHC ngày 16/02/2017) bằng hình thức phạt tiền là 1.500.000đ; ngày 24/02/2017 M đã chấp hành xong số tiền phạt trên.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú; có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Sáng ngày 23/01/2017, Trần Thị Ngọc M (là ngƣời nghiện ma túy) đi xe buýt từ phƣờng S, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng đến khu vực ngã tƣ đèn xanh, đèn đỏ đầu đƣờng vào thành phố B mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, M gặp một ngƣời đàn ông không quen biết và mua 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa ma túy tổng hợp dạng đá và 04 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc với giá 3.500.000đ. Sau khi mua đƣợc ma túy, M bắt xe buýt về nơi ở của mình tại số 10, đƣờng T, khu dân cƣ T, phƣờng S, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng (nhà M thuê của vợ chồng bà B, ông T ở đƣờng T, khu dân cƣ T, phƣờng S, thị xã C). M chia nhỏ số ma túy mua đƣợc ra làm 07 túi nhỏ, gói bằng túi nilon màu trắng. M cất 02 túi trong túi áo da của mình; 05 túi và 01 túi có 04 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc M để vào hộp giấy cứng màu trắng, cất dấu trên mặt tủ đựng quần áo trong phòng ngủ, mục đích để sử dụng cho bản thân. Nhận đƣợc tin báo của quần chúng nhân dân, khoảng 22 giờ 30 ngày 25/01/2017, Công an phƣờng S, thị xã C kiểm tra hành chính tại chỗ ở của M phát hiện, thu giữ: trên mặt tủ đựng quần áo trong phòng ngủ của M 01 hộp giấy cứng màu trắng có kích thƣớc (13x10x9)cm, kiểm tra trong hộp giấy phát hiện 05 túi nilon màu trắng đều có kích thƣớc (4x6)cm, bên trong các túi đều chứa chất tinh thể màu trắng, dạng cục và 01 túi nilon màu trắng có kích thƣớc (6x6,5)cm bên trong túi có 04 viên dạng nén màu xám có đƣờng kính 0,5cm; M tự lấy từ trong túi dƣới bên phải của áo khoác da M đang mặc giao nộp 02 túi nilon màu trắng, trong đó (01 túi kích thƣớc (2x2,5)cm, 01 túi kích thƣớc (2,5x35cm) bên trong các túi đều chứa chất tinh thể màu trắng, dạng cục.

Tại Kết luận giám định số: 444/C54(TT2) ngày 24/2/2007 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục Cảnh sát kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng trong 07 túi nilon này trắng gửi tới giám định có tổng trọng lƣợng 9,192g đều có Methamphetamine, hàm lƣợng 71,4% (bằng 6,56 gam Methamphetamine);

+ Bốn viên nén màu xám gửi đến giám định có tổng trọng lƣợng 1,008 gam đều có MDMA hàm lƣợng 30,0% (bằng 0,31 gam MDMA);

+ Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ;

+

+ MDMA ((- )-N-α-dimethyl-3,4-(methylennedioxy) phenethylamine) nằm trong Danh mục I, STT: 22, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 25/VKS-HS ngày 15/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh đã truy tố Trần Thị Ngọc M về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi vi phạm nhƣ nội dung bản cáo trạng của VKS và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

¸p dông kho¶n 1 §iÒu 194, ®iÓm p kho¶n 1 §iÒu 46, ®iÓm b, c kho¶n 1 §iÒu 41 Bé luËt h×nh sù 1999; ®iÓm a kho¶n 4 §iÒu 1 NghÞ quyÕt sè 144/2016/QH13 ngµy 29/6/2016 cña Quèc Héi; kho¶n 3 §iÒu 7 Bé luËt h×nh sù n¨m 2015; ®iÓm a,c,đ kho¶n 2 §iÒu 76, §iÒu 99 Bé luËt tè tông h×nh sù; LuËt phÝ vµ lÖ phÝ; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n cña ñy ban th êng vô Quèc Héi.

Xử phạt Trần Thị Ngọc M từ 42 đến 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoµi ra ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t cßn ®Ò xuÊt vÒ viÖc xö lý vËt chøng vµ ¸n phÝ cña vô ¸n.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu đã đƣợc thu thập trong hồ sơ, phù hợp với lời khai ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 25/01/2017, tại số nhà 10, đƣờng T, khu dân cƣ T, phƣờng S, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng, Trần Thị Ngọc M có hành vi cất giữ trái phép 9,192 gam Methamphetamine hàm lƣợng 71,4%( bằng 6,56 gam Methamphetamine) và 04 viên nén màu xám có tổng trọng lƣợng 1,008 gam MDMA, hàm lƣợng 30%(bằng 0,31 gam MDMA). Tổng sè ma tóy M cÊt gi÷ tr¸i phÐp lµ 6,56 gam Methamphetamine và 0,31 gam MDMA víi môc ®Ých ®Ó sö dông cho b¶n th©n. Hµnh vi nªu trªn của Trần Thị Ngọc M đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh truy tố Trần Thị Ngọc M là đúng ngƣời đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma tuý, trực tiếp mua ma tuý về để sử dụng không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma tuý của Nhà nƣớc mà còn đe doạ nghiêm trọng đến an toàn trật tự công cộng, sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của giống nòi, cũng nhƣ ảnh hƣởng xấu đến nhiều mặt xã hội.

Trong chúng ta, ai cũng biết tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ của toàn cầu đã gây ra nhiều tác hại cho xã hội, cho từng gia đình và từng con ngƣời, làm băng hoại đạo đức lối sống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, phá vỡ những mối quan hệ truyền thống tốt đẹp trong cộng đồng, trong gia đình, làm hƣ hỏng một bộ phận trong thế hệ trẻ, trở thành gánh nặng về kinh tế cho xã hội và gia đình, kéo lùi sự phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng. Đặc biệt, tệ nạn ma tuý còn là nguyên nhân chính làm lây truyền đại dịch HIV/AIDS. Đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh tội phạm và nhiều vi phạm pháp luật khác. Tệ nạn này các cấp chính quyền, các cơ quan pháp luật đã áp dụng nhiều biện pháp để phát hiện xử lý cũng nhƣ đấu tranh tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo đã nhận thức đƣợc điều đó nhƣng vẫn cố ý trực tiếp mua ma tuý về cất giữ bất hợp pháp để sử dụng, thoả mãn cơn nghiện. Hành vi của bị cáo đã góp phần làm cho tội phạm gia tăng, tiếp tay cho kẻ mua bán ma tuý bất hợp pháp và làm mất trật tự an toàn xã hội. Trong thời gian ngắn, bị cáo có hai hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy hành vi của bị cáo ngày 04 tháng 01 năm 2017 chƣa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bị cáo đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C xử phạt hành chính, điều đó chứng tỏ bị cáo không đoạn tuyệt đƣợc với ma túy. Vì vậy, cần áp dụng đối với bị cáo 01 hình phạt thỏa đáng cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để bị cáo rèn luyện trở thành ngƣời có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung nên chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết giảm nhẹ sau: Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận tội, ăn năn hối lỗi với hành vi của mình. Do vậy, bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS nên cần chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành thì bị cáo bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS với khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm. Tuy nhiên theo Bé luËt h×nh sù n¨m 2015 ® îc c«ng bè ngµy 09/12/2015 th× hành vi phạm tội của bị cáo tƣơng ứng với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS với khung hình phạt từ 2 năm đến 5 năm. MÆc dï Bé luËt h×nh sù 2015 ch a cã hiÖu lùc thi hµnh nh ng theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 3 §iÒu 7 Bé luËt h×nh sù n¨m 2015 vµ ®iÓm a kho¶n 4 §iÒu 1 NghÞ quyÕt sè 144/2016/QH13 ngµy 29/6/2016 cña Quèc Héi th× nh÷ng quy ®Þnh cã lîi cña Bé luËt h×nh sù 2015 ® îc ¸p dông ®èi víi nh÷ng hµnh vi ®· thùc hiÖn tr íc khi Bé luËt h×nh sù 2015 cã hiÖu lùc thi hµnh. Do vËy cÇn ¸p dông a kho¶n 4 §iÒu 1 NghÞ quyÕt sè 144/2016/QH13 ngµy 29/6/2016 cña Quèc Héi vµ kho¶n 3 §iÒu 7; khoản 1 Điều 249 Bé luËt h×nh sù n¨m 2015 ®Ó xem xÐt quyết định h×nh ph¹t cho bÞ c¸o.

Biện pháp tƣ pháp: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hải Dƣơng đã thu giữ của bị cáo Mai 07 túi nilon bên trong có 9,000 gam mẫu tinh thể màu trắng có Methamphetamine, 4 viên nén màu xám trọng lƣợng 0,774 gam có MDMA, tất cả đựng trong bì thƣ niêm phong số 444/C54(TT2) của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát chống tội phạm- Bộ Công an. Đây là vật thuộc loại Nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu cho huỷ bỏ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Về chiếc hộp giấy cứng màu trắng kích thƣớc 13 cm x 10 cm x 9 cm, trên hộp có chữ RHYTHM, bị cáo M dùng để cất giấu số ma túy không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy là phù với điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Trong vụ án này, M khai mua ma túy của ngƣời đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ, qua điều tra chƣa xác định đƣợc ngƣời đàn ông này là ai, cơ quan điều tra tách ra để xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy tại ngôi nhà số 10, đƣờng T, khu dân cƣ T, phƣờng S, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng. Đây là nhà của ông T, bà B cho bị cáo thuê để ở. Ông T và bà B không biết bị cáo sử dụng nhà để tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo M có tội nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; kho¶n 3 §iÒu 7; khoản 1 Điều 249 Bé luËt h×nh sù n¨m 2015 vµ ®iÓm a kho¶n 4 §iÒu 1 NghÞ quyÕt sè 144/2016/QH13 ngµy 29/6/2016.

Xử phạt Trần Thị Ngọc M 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy 9,000 gam mẫu tinh thể màu trắng có Methamphetamine, 0,774 gam có MDMA, tất cả đựng trong bì thƣ niêm phong số 444/C54(TT2) của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát chống tội phạm- Bộ Công an. Tịch thu cho hủy bỏ 01 hộp giấy cứng màu trắng kích thƣớc 13 cm x 10 cm x 9 cm, trên hộp có chữ RHYTHM.

(Toàn bộ vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chí Linh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/05/2017 giữa cơ quan điều tra Công an T.X Chí Linh và Chi cục Thi hành án dân sự T.X Chí Linh).

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1999; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo bị cáo M biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ