vanban.org

Bản án 36/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tuyên án 25/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh A giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNHNAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2017/HSST
Ngày: 25/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tiến Mãn

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Trúc

Bà Trần Thị Hồng Nhạn

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Văn Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Tâm.

Ngày 25 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2017/HSST, ngày 05 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Xuân C - Sinh năm 1981 tại huyện L, tỉnh A; nơi ĐKNKTT: Xóm H, xã P, huyện L, tỉnh A; nơi ở: Thôn H1, xã N, huyện Y, tỉnh Đ; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Xuân T và bà Phạm Thị T2; có vợ Nguyễn Thị B và 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; biện pháp ngăn chặn: Bảo lĩnh.

Người bị hại:

- Ông Vũ Đức N - Sinh năm 1963 (Đã chết).

Địa chỉ: Thôn Vân Bảng, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

- Anh Bùi Đức N2 - Sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn Hổ Sơn, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Vũ Thị C1 - Sinh năm 1965 là vợ ông Ngọc.

Địa chỉ: Thôn Vân Bảng, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Có mặt bị cáo, bà Vũ Thị C1 và anh Bùi Đức N2.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/10/2016, anh Bùi Đức N2 điều khiển xe môtô BKS 18S2 - 5479 chở ông Vũ Đức N đi trên quốc lộ 10 theo hướng Nam Định - Ninh Bình. Khi đến KM 126 + 900 thuộc địa phận xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định thì phát hiện thấy chiếc xe nâng do Nguyễn Xuân C điều khiển chở 03 khúc gỗ đi ngược chiều; khúc 1 dài nhất là 5,6m; khúc 2 dài 4,2m; khúc 3 dài 4,1m lấn sang phần đường xe đi ngược chiều là l,7m và 1,3m dẫn đến va chạm làm xe môtô do anh N2 điều khiển đổ; anh N2 và ông N ngã ra đường bị thương được đưa đi bệnh viện cấp cứu. Ngày 20/10/2016 ông N tử vong, anh N2 tiếp tục điều trị tại Bệnh viện Quân y 5 đến ngày 07/11/2016 ra viện.

Sau khi xảy ra tai nạn, cơ quan chức năng đã khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, đồ vật, tử thi theo quy định. Tại kết luận giám định pháp y tử thi số 1092/GĐ-KTHS ngày 02/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Nguyên nhân dẫn đến ông Vũ Đức N chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.

Đối với anh Bùi Đức N2, ngày 22/11/2016 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên đã ra quyết định trưng cầu giám định nhưng anh N2 có đơn từ chối giám định thương tích nên Công an huyện Ý Yên đã không thể tiến hành giám định thương tích đối với anh N2.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Xuân C đã bồi thường xong, đại diện gia đình người bị hại, người bị hại không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bà Vũ Thị C1 yêu cầu anh Bùi Đức N2 có trách nhiệm bồi thường dân sự cho gia đình bà. Quá trình điều tra xác định anh N2 không có lỗi nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe nâng nhãn hiệu TOYOTA 60-7FD20; chiếc xe môtô BKS 18S2 - 5479 và 03 khúc gỗ là vật chứng của vụ án. Công an huyện Ý Yên đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập xử lý.

Bản Cáo trạng số 30/CTr-VKS-HS, ngày 17/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên đã truy tố bị can Nguyễn Xuân C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Nguyễn Xuân C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Vũ Thị C1 và người bị hại là anh Bùi Đức N2 xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường, nay không yêu cầu gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Bản Cáo trạng số 30/CTr-VKS-HS, ngày 17/5/2017 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng Điểm b, p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Xuân C từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, tại phiên tòa đại diện người bị hại và người bị hại không yêu cầu gì thêm, nên không đề cập gải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/10/2016, tại KM 126 + 900 Quốc lộ 10 thuộc địa phận xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Nguyễn Xuân C có hành vi điều khiển xe nâng chở 03 khúc gỗ lấn sang phần đường giành cho xe đi ngược chiều là l,7m và 1,3m dẫn đến va chạm làm xe môtô BKS 18S2 - 5479 do anh Bùi Đức N2 điều khiển chở ông Vũ Đức N bị đổ. Hậu quả ông Vũ Đức N và anh Bùi Đức N2 bị thương, đến ngày 20/10/2016 ông Ngọc tử vong, anh Nhân điều trị tại Bệnh viện Quân y 5 đến ngày 07/11/2016 ra viện.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, điều khiển xe nâng chở hàng quá khổ giới hạn. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Khoản 23 Điều 8; Khoản 1 Điều 28 Luật giao thông đường bộ và Điều 9 Thông tư 46 ngày 07/09/2015 của Bộ giao thông vận tải, dẫn đến hậu quả làm ông N chết và anh N2 bị thương. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng, sức khỏe tài sản của nhân dân. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên truy tố là có căn cứ.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là bồi thường thiệt hại cho người bị hại và gia đình người bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà nên cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Công an huyện Ý Yên đã xử lý xong, vì vậy Hội đồng xét xử không phải quyết định gì thêm.

Đối với thương tích của anh Bùi Đức N2: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên đã quyết định trưng cầu giám định thương tích. Tuy nhiên anh N2 từ chối giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Quá trình điều tra bà C1 yêu cầu anh N2 có trách nhiệm bồi thường dân sự cho gia đình bà. Tuy nhiên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên xác định anh N2 không có lỗi; tại phiên tòa bà Chiến không yêu cầu anh N2 phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 231, 233 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh A giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ