- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn H Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2017/HSST Ngày 01/12/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Văn Tuấn
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hòa
2. Bà Mai Thị Thoa
- Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Bùi Văn Hải - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân Lịch - Kiểm sát viên
Ngày 01 tháng 12 năm 2017 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2017/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Trần Văn H
trú tại xóm 8, xã N, huyện S, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 04/12; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị U; tiền sự không; tiền án không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2017.
Có mặt tại phiên tòa
* Ngƣời bị hại:
1. Anh Phạm Văn L
Trú quán: Thôn 2, xã H, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Nguyễn Hữu H
Trú quán: Thôn 2, xã H, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
Những người bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo Trần Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 24/3/2011 Trần Văn H đến nhà anh Phạm Văn L làm nghề lái xe tại Thôn 2, xã H, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Tại nhà anh Phạm Văn L, Trần Văn H đã tạo ra lý do và nói dối anh L là xe ô tô tải của H lái bị nổ lốp trước, đang nằm ở trên đồi không đi làm được, muốn mượn của anh L bộ đồ nghề làm lốp để sửa xe. Vì có một thời gian H với anh L cùng đi lái xe chạy công trình đắp đê xã H nên hai người có quen biết nhau. Thấy H nói xe bị nổ lốp thì anh L tin tưởng giao bộ đồ nghề làm lốp cho H mượn. Bộ đồ sửa lốp gồm: 01 cụm La zanh bằng sắt dài khoảng 30 cm; 02 típ mở tắc kê bằng sắt dài khoảng 15cm; 01 tay quay bằng sắt hình chữ L; 01 hộp đựng dụng cụ màu xanh bằng nhựa.
Sau khi lấy bộ đồ nghề sửa xe của anh Phạm Văn L xong, Trần Văn H sang nhà anh Nguyễn Hữu H(hàng xóm với anh L). Cũng với thủ đoạn gian dối, H gặp anh Nguyễn Hữu H và nói với anh Nguyễn Hữu H là “Chú bơm quả lốp sơ cua cho cháu rồi chú cho cháu mượn xe máy về tháo lốp và nhờ chú vá”. Do trước đây H thường đến nhà anh Nguyễn Hữu H sửa xe nên nghe H nói cho mượn xe đi tháo lốp xe bị nổ mang về nhờ anh Nguyễn Hữu H vá thì anh Nguyễn Hữu H đã tin tưởng lời H nói. Anh Nguyễn Hữu H đã cho H mượn chiếc xe mô tô của mình nhãn hiệu Honda Wave BKS 36M2 8566. Sau khi mượn đồ của anh Lvà mượn xe của anh Nguyễn Hữu H xong, Trần Văn H đã không quay lại trả như đã nói, mà H đã điều khiển xe Mô tô chở theo bộ đồ nghề sửa xe đi ra thị trấn L đi dọc theo Quốc lộ 217 xuống Lèn (thuộc huyện T) rồi đi về huyện S, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi đi về đến huyện S, H điều khiển xe máy đi theo Quốc lộ 10 H từ thị trấn S đi xã M, huyện S. Trên đường đi Trần Văn H đã vào một tiệm sửa xe ô tô, cầm đồ chiếc xe mô tô và bộ đồ sửa lốp được số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để tiêu xài và bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 27/4/2011 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Vĩnh Lộc đã ra quyết định trưng cầu Hội đồng định giá tài sản huyện V đối với chiếc xe mô tô và bộ đồ nghề sửa xe mà Trần Văn H đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt.
Ngày 10/5/2011 Hội đồng định giá tài sản huyện V đã có bản kết luận định giá tài sản số 06/TB – HĐĐGTS kết luận: Chiếc xe mô tô Honda Wave an pha BKS 36M2 – 8566 tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng). Giá trị của bộ Tắc ke làm lốp tại thời điểm xâm phạm có giá trị 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).
Ngày 30/5/2011 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Vĩnh Lộc đã có quyết định truy nã đối với Trần Văn H về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đến ngày 11/7/2017 Trần Văn H bị phòng PC 52 công an tỉnh Thanh Hóa bắt truy nã tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội và bản giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vì sau khi phạm tội tại huyện Vĩnh Lộc, ngày 02/8/2011 Trần Văn H tiếp tục có hành vi Trộm cắp tài sản tại huyện Nga Sơn rồi bỏ trốn và bị Cơ quan CSĐT công an huyện Nga Sơn truy nã về tội “Trộm cắp tài sản” theo quyết định số 04/CSĐT ngày 20/10/2011.
Quá trình điều tra Trần Văn H đã khai nhận: Do không có công ăn, việc làm, không có tiền tiêu xài cá nhận nên đã nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối, dựng lên các thông tin không có thật là xe bị nổ lốp, để tạo niềm tin lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Hữu Hvà anh Phạm Văn L.
Về vật chứng vụ án: 01 Bộ tắc kê làm lốp và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave an pha BKS 36 M2 – 8566, Trần Văn H đã cầm đồ cho một cửa hiệu sửa chữa ô tô thuộc xã N, huyện S . Cơ quan CSĐT công an huyện Vĩnh Lộc đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả và sẽ tiếp tục truy tìm, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 35/CTr - VKS ngày 27/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa truy tố Trần Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 139 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 139, điểm b, h, p khoản 1 điều 46, điều 33 Bộ luật hình sự 1999, xử phạt Trần Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết luật tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đó là: Vào ngày 24 thàng 3 năm 2011 Trần Văn H dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo hiếm đoạt bộ đồ tắc kê làm lốp của anh Phạm Văn L có giá trị 900.000 đồng và chiếc xe mô tô Honda Wave an pha BKS 36 M2 8566 của anh Nguyễn Hữu H có giá trị 11.500.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất vụ án: Đây là vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng dân cư. Do đó cũng cần lên một mức án phù hợp để giáo dục riêng bị cáo Trần Văn H và phòng ngừa chung.
- Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+Về tình tiết tăng nặng : Bị cáo Trần Văn H không có tình tiết tăng nặng Trách nhiệm hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ : Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng . Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 cần được xem xét khi quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình bị cáo Trần Văn H đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Phạm Văn L số tiền 1.200.000 đồng và anh Nguyễn Hữu Hsố tiền 12.000.000 đồng. Những người bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Trần Văn H sau khi có hành vi phạm tội đã bỏ trốn gây cản trở cho cơ quan điều tra. Tháng 08/2011 bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 02/11/2017 đến nay bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Về vật chứng vụ án: 01 Bộ tắc kê làm lốp và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave an pha BKS 36 M2 – 8566, Trần Văn H đã cầm đồ cho một cửa hiệu sửa chữa ô tô thuộc xã Nga Mỹ, huyện Nga Sơn . Cơ quan CSĐT công an huyện Vĩnh Lộc đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả và sẽ tiếp tục truy tìm, xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Qua điều tra bị cáo Trần Văn H không có tài sản gì do đó miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Văn H là phù hợp
Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H
Phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng: khoản 1 Điều 139; điểm b, h,p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt: bị cáo Trần Văn H 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí: : Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm xung công quỹ nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Trần Văn H. Vắng mặt người bị hại là anh Phạm Văn L và anh Nguyễn Hữu H.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngảy niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - VKSND huyện Vĩnh Lộc; - Công an huyện Vĩnh Lộc; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Tuấn |