- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị O xin ly hôn anh Phạm Khả Tr"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2017/HNGĐ - ST Ngày: 19- 9-2017 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Quang Kim
Ông: Hoàng Văn Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2017/TL T-HNGĐ ngà 14/07/2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2017/QĐ T-HNGĐ ngà 29/08/2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 34c/QĐ T – HNGĐ ngà 13/9/2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O - inh năm 1984 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Phạm Khả Tr - inh năm 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 3, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, cũng như tại phiên toà hôm nay, ngu ên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Phạm Khả Tr có thời gian tìm hiểu rồi tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 29/02/2004. au khi cưới, hai vợ chồng về chung sống với nhau ngay, ở chung với gia đình anh Phạm Khả Tr khoảng 4 đến 5 tháng thì vợ chồng ra ở riêng nhưng vẫn trên đất của bố mẹ chồng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không chung quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau. Ngoài ra, anh Phạm Khả Tr không chịu làm ăn, chỉ ở nhà, không chăm lo cho gia đình, vợ con. Khi mâu thuẫn xảy ra, anh Phạm Khả Tr có đánh đập chị nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở năm 2013 và đi lao động tại nước ngoài. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho tới nay, không ai quan tâm tới ai, hai bên gia đìnhcó hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Na chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Khả Tr.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị O xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Thị Kim A sinh ngày 21/01/2005. Hiện nay cháu Phạm Thị Kim A đang ở cùng chị và phát triển bình thường. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cháu Phạm Thị Kim A và không yêu cầu anh Phạm Khả Tr cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất: Chị Nguyễn Thị O xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Phạm Khả B – bố đẻ anh Phạm Khả Tr cho biết: Vợ chồng chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr kết hôn với nhau năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V. Sau khi tổ chức hôn lễ thì chị Nguyễn Thị O về làm dâu gia đình nhà ông nga và sống chung với vợ chồng ông khoảng 01 năm thì ra ở riêng nhưng trên cùng thửa đất. Cuộc sống vợ chồng chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr thời gian đầu bình thường nhưng khi ra ở riêng thì có trục trặc lý do ông không nắm được nhưng ông có nghe nói lại là chị Nguyễn Thị O có đứng nói chuyện với một người ở đầu cầu vào buổi tối. Khi sinh con gái được 01 năm thì chị Nguyễn Thị O đi lao động tại nước ngoài đến khoảng năm 2009 – 2010 thì chị Nguyễn Thị O về nước. Khi chị Nguyễn Thị O về nước thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn hơn, có đánh cãi chửi nhau. Chị Nguyễn Thị O đã đi khỏi nhà ông cũng đã lâu và không liên hệ gì với con trai ông. Nay chị Nguyễn Thị O xin ly hôn anh Phạm Khả Tr thì đề nghị Tòa án giải quyết theo qu định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr có 01 con chung là cháu Phạm Thị Kim A sinh ngày 21/01/2005. Cháu Phạm Thị Kim A ở với ông bà ngoại từ khi sinh ra cho tới na , đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác: Vợ chồng chị Nguyễn Thị O, anh Phạm Khả Tr không có nên đề nghị Tòa án giải quyết theo qu định của pháp luật.
Hiện nay anh Phạm Khả Tr vẫn sống cùng vợ chồng ông. Tòa án có gửi thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông, ông đã trực tiếp giao lại cho anh Phạm Khả Tr và bảo anh Phạm Khả Tr xuống làm việc theo nội dung Tòa án đã thông báo tuy nhiên con ông Phạm Khả Tr không có ý kiến gì và cũng không xuống Tòa án làm việc. Ông đề nghị Tòa án cứ giải quyết vụ án theo qu định của pháp luật, không phải đi lại và triệu tập nhiều vì có gửi giấy triệu tập thì con ông cũng không xuống Tòa án làm việc.
Ông Nguyễn Văn H – Phó thôn 3, xã V cung cấp: Anh Phạm Khả Tr và chị Nguyễn Thị O mâu thuẫn thế nào thì địa phương không rõ tu nhiên chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr sống l thân nhau đã lâu. Hiện nay chị Nguyễn Thị O đã về nhà bố mẹ đẻ ở Thượng Lan ở cùng con gái. Còn anh Phạm Khả Tr vẫn có mặt ở địa phương, hàng ngà thường đi chăn bò chứ không có công ăn, việc làm cụ thể vì vậy về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản, công nợ, ruộng canh tác đề nghị Tòa án giải quyết theo qu định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay, chị Nguyễn Thị O vẫn giữ ngu ên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Khả Tr và nuôi con chung của vợ chồng là cháu Phạm Thị Kim A sinh ngày 21/01/2005. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không yêu cầu giải quyết về tài sản, công nợ, ruộng canh tác.
Anh Phạm Khả Tr đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử công bố lời khai của ông Phạm Khả B có trong hồ sơ. Chị Nguyễn Thị O không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng qu định của pháp luật. Việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng qu định
Về ý kiến giải quyết vụ án:
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 58; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 BLTTD . Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Phạm Khả Tr.
Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị O được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Kim A sinh ngày 21/01/2005. Anh Phạm Khả Tr không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí D T nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Việc chị Nguyễn Thị O khởi kiện xin ly hôn anh Phạm Khả Tr thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Việt Yên theo qu định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà ngày hôm nay anh Phạm Khả Tr vắng mặt nhưng Toà án cùng chính quyền địa phương đã đến gia đình nhiều lần nhưng anh Phạm Khả Tr không hợp tác làm việc với Toà án, đã gâ khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Mặc dù Toà án đã thực hiện đầ đủ các thủ tục theo qu định của pháp luật nhưng anh Phạm Khả Tr cương qu ết không đến Toà án làm việc. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Nghị quyết 03/HĐTP ngà 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục bị đơn từ chối khai báo, cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Ngoài ra cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 – Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Khả Tr là có căn cứ. [2] Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Chị Nguyễn Thị O cũng đã cung cấp được trích lục giấy chứng nhận kết hôn. Như vậy hôn nhân của chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị Nguyễn Thị O và ông Phạm Khả Bình (bố đẻ anh Trinh) đều xác định vợ chồng chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr sống l thân đã lâu, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị Nguyễn Thị O xin ly hôn, anh Phạm Khả Tr không lên Tòa làm việc, không đồng ý để Tòa án ghi lời khai của mình điều đó chứng tỏ anh Phạm Khả Tr không mong muốn hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Qua xác minh với chính quyền địa phương và bố đẻ anh Phạm Khả Tr thì thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Nguyễn Thị O, anh Phạm Khả Tr đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Nguyễn Thị O khởi kiện xin l hôn là có căn cứ, cần chấp nhận. [3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr có 01 con chung là cháu Phạm Thị Kim A sinh ngày 21/01/2005. Hiện na cháu Kim A đang ở cùng chị Nguyễn Thị O và phát triển bình thường. Ly hôn, chị Nguyễn Thị O có nguyện vọng được nuôi cháu Phạm Thị Kim A. Hội đồng xét xử xét thấy: Qua xác minh với ông Phạm Khả B và chính quyền địa phương thì thấy cháu Phạm Thị Kim A ở cùng với chị Nguyễn Thị O và ông bà ngoại từ nhỏ, bản thân cháu Phạm Thị Kim A có nguyện vọng ở với chị Nguyễn Thị O và anh Phạm Khả Tr hiện na không có công ăn việc làm cụ thể nên cần giao cháu Phạm Thị Kim A cho chị Nguyễn Thị O nuôi dưỡng là phù hợp.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị O không yêu cầu nên HĐXX không xem xét trong vụ án này. [4] Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất: Chị Nguyễn Thị O xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị O phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, cần áp dụng các Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 56; điều 57; điều 58; điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Phạm Khả Tr.
Con chung: Giao cháu Phạm Thị Kim A sinh ngày 21/01/2005 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Phạm Khả Tr có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.
Án phí: Chị Nguyễn Thị O phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền dự phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai AA/2012/04610 ngày 14/07/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên. Chị Nguyễn Thị O đã nộp đủ án phí DSST.
Báo thời hạn kháng cáo 15 ngà cho các đương sự có mặt biết kể từ ngày tu ên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Việt Yên; - Chi cục THADS huyện Việt Yên; - UBND xã V. - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Lƣơng Thị Thanh Quyên |