vanban.org

Bản án 36/2017/DSST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 92 B luật Tố tụng dân sự; Điều 290, Điều 305 B luật Dân sự năm 2005; Điều 280, Điều 357, khoản 2 Điều 468 B luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngà…

Chấp nhận yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Mía Đường Cồn L.M.P. Bu c bà Lê Thị Hồng G trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Mía Đường Cồn L.M.P tiền vốn đầu tư trồng mía là 10.000.000 đồng, tiền lãi chậm trả là 624.724 đồng, tổng c ng là 10.624.724 đồng (Mười triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Công ty L.M.P - Lê Thị Hồng G"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 92 B luật Tố tụng dân sự; Điều 290, Điều 305 B luật Dân sự năm 2005; Điều 280, Điều 357, khoản 2 Điều 468 B luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngà…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2017/DS-ST
Ngày 15-8-2017
V/v tranh chấp hợp đồng đầu tư
trồng và mua bán mía nguyên liệu

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Thanh Phong;

Ông Trần Văn Lâm;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2017, về tranh chấp hợp đồng đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2017/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Mía Đƣờng L.M.P;

Địa chỉ trụ sở: Khu vực A, phường T, TX. L, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hà Minh T; địa chỉ làm việc: Khu vực A, phường T, TX. L, tỉnh Hậu Giang; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 21 tháng 02 năm 2017). (có mặt)

- Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng G;

Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Trƣơng Thị Mỹ L; địa chỉ cư trú: Đường D, khóm T, phường C, TP. S, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (Văn bản ủy quyền ngày 29 tháng 5 năm 2017). (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 01 năm 2017 của nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn Mía Đƣờng Cồn L.M.P và tại phiên tòa sơ thẩm, ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Hà Minh T trình bày:

Vào ngày 04 tháng 4 năm 2015, Công ty trách nhiệm hữu hạn Mía Đường Cồn L.M.P (gọi tắt là Công ty L.M.P) v i bà Lê Thị Hồng G có ký hợp đồng đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu niên vụ 2015 - 2016, được chính quyền địa phương xác nhận vào ngày 01 tháng 6 năm 2015. Theo hợp đồng, Công ty L.M.P đầu tư cho bà G số tiền 10.000.000 đồng, để trồng 03 ha mía. Ngược lại, khi đến vụ thu hoạch mía, bà G phải bán mía cho Công ty L.M.P và hoàn trả tiền vốn đầu tư (gồm gốc và lãi). Thời hạn trả nợ cuối c ng là ngày 30 tháng 11 năm 2015. Thực hiện hợp đồng, vào ngày 17 tháng 8 năm 2015, Công ty L.M.P đã chi cho bà G số tiền mặt là 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, vụ mía 2015, hai bên không thỏa thuận được giá mía, bà G bán cho thương lái và c ng không trả lại tiền vốn đầu tư. Đến ngày 24 tháng 8 năm 2016, hai bên có lập biên bản xác nhận nợ. Theo biên bản xác nhận nợ, bà G xin được trả nợ b ng mía nguyên liệu trong vụ 2016 - 2017, nhưng nếu hai bên không thỏa thuận được giá mía thì trả b ng tiền mặt, thời hạn trả nợ là đến ngày 30 tháng 12 năm 2016, trả d t điểm m t lần, trường hợp không trả nợ đúng thời hạn cam kết thì phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày nhận tiền đầu tư đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Đến nay đã qua thời gian hạn trả nợ, bà G không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết. Vì vậy, Công ty L.M.P yêu cầu bà G trả lại tiền đầu tư là 10.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật, tính từ ngày nhận tiền đầu tư (ngày 17 tháng 8 năm 2015) cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Các tài liệu, ch ng c ch ng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Hợp đồng đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu ngày 04 tháng 4 năm 2015 (bản chính); Phiếu chi ngày 17 tháng 8 năm 2015 (bản chính); Biên nhận nợ và thủ tục thanh toán ngày 17 tháng 8 năm 2015 (bản chính); Biên bản xác nhận nợ ngày 24 tháng 8 năm 2016 (bản sao).

Trong văn bản tự khai ngày 29 tháng 5 năm 2017 và tại phiên tòa sơ thẩm, ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn bà Lê Thị Hồng G là bà Trƣơng Thị Mỹ L trình bày:

Bà thừa nhận bà G có ký hợp đồng đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu v i Công ty L.M.P. Bà G có nhận tiền đầu tư trồng mía là 10.000.000 đồng vào khoảng tháng 5 năm 2016, ch không phải ngày 17 tháng 8 năm 2015 như người đại diện hợp pháp của Công ty L.M.P trình bày. Đến vụ mía 2015, bà G có liên hệ v i Công ty L.M.P để yêu cầu thu mua mía, nhưng phía Công ty L.M.P không đồng ý thu mua theo giá thị trường tại thời điểm thu hoạch, nên bà G bán mía cho thương lái. Đến ngày 24 tháng 8 năm 2016, hai bên có lập biên bản xác nhận nợ và thỏa thuận bà G trả nợ b ng mía nguyên liệu niên vụ 2016 - 2017, thời hạn trả nợ là đến ngày 30 tháng 12 năm 2016, trả d t điểm m t lần. Tuy nhiên, đến vụ mía 2016, hai bên tiếp tục không thỏa thuận được giá, bà G bán mía cho thương lái và đến nay chưa trả lại tiền đầu tư. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty L.M.P là bên có lỗi nên bà G chỉ đồng ý trả lại tiền vốn đầu tư, còn tiền lãi thì không đồng ý.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trư c thời điểm H i đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, H i đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối v i yêu cầu khởi kiện của Công ty L.M.P, đề nghị H i đồng xét xử chấp nhận và bu c bà G trả cho Công ty L.M.P số tiền đầu tư trồng mía là 10.000.000 đồng, tiền lãi chậm trả tính từ ngày 30 tháng 12 năm 2016 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: H i đồng xét xử nhận thấy, theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty L.M.P thì giữa Công ty L.M.P v i bị đơn là bà G có ký hợp đồng đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu. Sau khi ký hợp đồng, Công ty L.M.P đã đầu tư tiền cho bà G trồng mía, nhưng đến khi thu hoạch thì bà G không bán mía cho Công ty L.M.P, mà bán mía cho thương lái và c ng không trả lại tiền đầu tư cho Công ty L.M.P. Vì vậy, Công ty L.M.P yêu cầu bà G trả lại tiền đầu tư và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Phía bà G thì cho r ng, do Công ty L.M.P không mua mía theo giá thị trường nên bà G m i bán cho thương lái. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng dân sự đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu, ch không phải là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản (tiền) như Tòa án xác định khi thụ lý vụ án. Do đó, H i đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp cho ph hợp v i n i dung tranh chấp.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng dân sự đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu theo quy định tại khoản 3 Điều 26 B luật Tố tụng dân sự và bị đơn là bà G có địa chỉ cư trú ở ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 B luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty L.M.P, về việc yêu cầu bà G trả lại tiền đầu tư trồng mía 10.000.000 đồng, H i đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bà G thừa nhận bà G có ký hợp đồng đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu v i Công ty L.M.P, có nhận tiền đầu tư trồng mía là 10.000.000 đồng và đến nay, bà G chưa trả. Khoản 2 Điều 92 B luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Đồng thời, khoản 3 Điều này c ng quy định: “Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện”. Theo văn bản ủy quyền ngày 29 tháng 5 năm 2017, bà G ủy quyền cho bà L toàn quyền quyết định trong vụ án này. Như vậy, sự thừa nhận của bà L c ng được coi là sự thừa nhận của bà G. Do đó, việc bà G ký hợp đồng đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu v i Công ty L.M.P, đã nhận tiền đầu tư 10.000.000 đồng đến nay chưa trả là có thật.

Theo hợp đồng đầu tư trồng và mua bán mía nguyên liệu mà hai bên đã ký, H i đồng xét xử nhận thấy, Điều 2 của Hợp đồng có nêu m t trong những trách nhiệm của bên B (t c bên bà G), đó là hoàn trả đầy đủ vốn đầu tư (cả gốc và lãi) cho bên A (t c bên Công ty L.M.P) theo thời gian cam kết. Nếu vi phạm bên B phải chịu lãi suất quá hạn theo luật kinh doanh thương mại. Theo Điều 1 của Hợp đồng thì bà G phải hoàn trả vốn cho Công ty L.M.P hạn cuối là vào ngày 30 tháng 11 năm 2015. Tuy nhiên, đến thời hạn này, bà G không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn đầu tư. Đến ngày ngày 24 tháng 8 năm 2016, hai bên có lập biên bản xác nhận nợ v i sự xác nhận của chính quyền địa phương. Theo biên bản, bà G xin trả nợ cho Công ty L.M.P b ng mía nguyên liệu niên vụ 2016

- 2017, nếu hai bên không thỏa thuận được giá thì bà G trả b ng tiền mặt 10.000.000 đồng, trả d t điểm m t lần vào ngày 30 tháng 12 năm 2016. Tuy nhiên, sau đó hai bên không thỏa thuận được giá mía, bà G bán mía cho thương lái và c ng chưa trả lại tiền đầu tư. Điều 290 B luật Dân sự 2005, c ng như Điều 280 B luật Dân sự năm 2015 đều quy định: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”. Như vậy, bà G phải có nghĩa vụ trả lại tiền đầu tư trồng mía cho Công ty L.M.P là 10.000.000 đồng.

Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty L.M.P, về việc yêu cầu bà G trả tiền lãi theo quy định của pháp luật tính từ ngày nhận tiền đầu tư (ngày 17 tháng 8 năm 2015) đến ngày xét xử sơ thẩm. H i đồng xét xử nhận thấy, khoản 2 Điều 305 B luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán”, còn Điều 357 B luật Dân sự năm 2015 thì quy định: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Theo biên bản xác nhận nợ lập ngày 24 tháng 8 năm 2016 thì hai bên có thỏa thuận, hạn trả nợ cuối c ng của bà G là vào ngày 30 tháng 12 năm 2016. Do đó, lãi suất chậm trả tiền chỉ phát sinh và được tính từ ngày này. Công ty L.M.P yêu cầu tính lãi suất do chậm trả tiền tính từ ngày nhận tiền đầu tư đến ngày xét xử sơ thẩm và phía bà G không đồng ý trả tiền lãi do chậm trả tiền, là không ph hợp v i quy định nêu trên, nên H i đồng xét xử điều chỉnh lại cho ph hợp. Như vậy, bà G phải trả tiền lãi cho Công ty L.M.P do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau:

- Từ ngày 30 đến ngày 31 tháng 12 năm 2016 là 02 ngày. Theo khoản 2 Điều 305 B luật Dân sự năm 2005 nêu trên thì tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nư c công bố là 9%/năm, b ng 0,75%/tháng, cụ thể: 10.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 02 ngày = 5.000 đồng.

- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15 tháng 8 năm 2017) là 07 tháng 14 ngày. Theo Điều 357 B luật Dân sự năm 2015 nêu trên thì lãi suất tính theo khoản 2 Điều 468 của B luật này là 10%/năm, b ng 0,83%/tháng, cụ thể: 10.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 07 tháng 14 ngày = 619.724 đồng.

- Tổng c ng tiền lãi là 624.724 đồng.

Từ những phân tích trên, H i đồng chấp nhận yêu cầu của Công ty L.M.P, bu c bà G trả cho Công ty L.M.P tiền vốn đầu tư trồng mía là 10.000.000 đồng, tiền lãi chậm trả tiền là 624.724 đồng, tổng c ng là 10.624.724 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đề nghị H i đồng xét xử chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Công ty L.M.P là có căn c .

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty L.M.P được chấp nhận nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường vụ Quốc h i, quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.624.724 đồng x 5% = 531.236 đồng, còn Công ty L.M.P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ng án phí đã n p.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án là Công ty L.M.P cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án là bà G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 B luật Dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 92 B luật Tố tụng dân sự; Điều 290, Điều 305 B luật Dân sự năm 2005; Điều 280, Điều 357, khoản 2 Điều 468 B luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường vụ Quốc h i, quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Mía Đường Cồn L.M.P. Bu c bà Lê Thị Hồng G trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Mía Đường Cồn L.M.P tiền vốn đầu tư trồng mía là 10.000.000 đồng, tiền lãi chậm trả là 624.724 đồng, tổng c ng là 10.624.724 đồng (Mười triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm hai mươi bốn đồng).

2. Án phí:

- Bà Lê Thị Hồng G phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 531.236 đồng (Năm trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi sáu đồng).

- Công ty trách nhiệm hữu hạn Mía Đường Cồn L.M.P được nhận lại số tiền tạm ng án phí đã n p 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo các biên lai thu số 0004212 ngày 13 tháng 01 năm 2017 và số 0004225 ngày 17 tháng 01 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 B luật Dân sự năm 2015.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ