vanban.org

Bản án 359/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 18/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LTK phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 359/2023/HS-ST
Ngày: 18/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Tưởng Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Cao Biền

Bà Lê Thị Huyền

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải -Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà

Đông

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông

Ông Hoàng Tuấn Anh - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 358/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 362/2023/QĐXXST-HS ngày 06/12/2023 đối với các bị cáo: 1. LTK, sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Cụm 10, xã Thọ Xuân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Đảng phái, Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông LVT (Đã chết); con bà: TTT, sinh năm 1948; Anh, chị, em ruột: 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: NTQ, Sinh năm 1986; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011;

Tiền án: 02 tiền án:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2009/HSST ngày 24/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án phúc thẩm số 440/2009/HSPT ngày 30/6/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2009. Ra trại ngày 17/7/2010.

-Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2012/HSST ngày 16/5/2012 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; bản án hình sự phúc thẩm số 799/2012/HSPT ngày 30/7/2012 của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2011, ra trại ngày 16/02/2017. Ngày 24/9/2020, bị cáo được miễn thi hành án đối với khoản truy nộp sung quỹ còn lại 4.841.200 đồng nên chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ/XPVPHC ngày 09/01/2003 của UBND huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây (cũ) về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

2.TVN - Sinh năm: 1988; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Cụm 8, xã Thọ Xuân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Đảng phái, Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông TVC - sinh năm 1966; con bà HTK, sinh năm 1966; anh, chị, em ruột: 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: LTH, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con: Không;

- Tiền án: Bản án số 75/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 06/5/2023.

- Tiền sự: Không.

* Nhân thân:

1. Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2011/HSST ngày 03/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án).

2. Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 28/QĐ-TA ngày 24/4/2017 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Đã chấp hành xong ngày 15/02/2019.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: anh PVN, sinh năm 1997; trú tại: số 48 Vũ Trọng Khánh, phường Mỗ Lao. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông PVT, sinh năm 1973; trú tại: Trung Tâm Hợp Thịnh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 13/9/2023, tại khu vực ngã tư Quang Trung- Cầu Đơ, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tổ công tác Công an phường Quang Trung phối hợp với tổ công tác Y11/141 Công an thành phố Hà Nội dừng xe kiểm tra hành chính đối với LTK và TVN. Tại đây Ki và N khai nhận chiếc xe máy Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 98D1- 828.45 đang sử dụng là tài sản trộm cắp được mà có nên lực lượng 141 mời K và N về Công an phường Quang Trung, quận Hà Đông để làm việc. Tại công an phường, K và N đã xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Do không có việc làm và thu nhập ổn định nên K và N rủ nhau đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền tiêu xài. Sáng 13/9/2023, LTK chuẩn bị 05 (năm) đầu vam phá khóa bằng kim loại, 01 (một) tay công vam phá khóa bằng kim loại có tay cầm bằng cao su màu đỏ đen để làm công cụ trộm cắp xe máy; một con dao bầu bằng kim loại có đầu nhọn, chuôi bằng gỗ để làm vũ khí chống trả nếu khi trộm cắp tài sản bị phát hiện, ngăn cản. Đến 10h 00 phút cùng ngày, K điều khiển chiếc xe máy Honda Wave màu xanh tím than đến đón TVN để đi trộm cắp xe máy (xe máy K mua trước đó khoảng một tháng của một người không quen biết, K không nhớ biển kiểm soát của xe, chỉ nhớ biển có các số là 29-L5). Khi gặp N, K đưa cho N giữ 02 (hai) đầu vam phá khóa. Sau đó, N chở K đến khu vực quận Hà Đông, TP. Hà Nội xem có ai sơ hở thì trộm cắp xe máy. Khi đi đến trước cửa số nhà 48 Vũ Trọng Khánh, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, và N phát hiện có một chiếc xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 98D1- 828.45 của anh PVN sinh năm 1997, HKTT: Thôn Trung Tâm, xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, hiện ở số 48 Vũ Trọng Khánh, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, TP. Hà Nội đang dựng trước cửa nhà có khóa cổ, không khóa càng xe, không có người trông giữ. N dừng xe máy đứng ngoài cảnh giới, còn K đi vào dùng bộ tay công và mũi vam chọc vào ổ khóa xe máy để mở khoá nhưng không được. đi bộ ra chỗ N đứng, nói với N là không mở được xe và đưa cho N bộ tay công có gắn sẵn mũi vam để N đi vào phá khoá. N cầm bộ tay công gắn mũi vam chọc phá ổ khoá thì mở được ổ khóa điện của xe, N nổ máy và điều khiển chiếc xe vừa trộm được, còn K điều khiển chiếc xe máy Honda Wave màu xanh tím than cùng nhau bỏ chạy đến khu vực gần đường tàu Ba La, thuộc phường Phú Lãm quận Hà Đông, TP. Hà Nội thì dừng lại. K bảo N vào mạng internet rao bán chiếc xe Honda Wave màu xanh tím than của K với giá là 2.500.000 đồng để lấy tiền tiêu xài còn chiếc xe vừa trộm cắp được sẽ giữ lại làm phương tiện di chuyển. Khoảng 15 phút sau thì N nói có người đồng ý mua chiếc xe của K với giá là 2.500.000 đồng. Sau đó, có 02 người phụ nữ không quen biết đến mua xe và trả cho K 2.500.000 đồng, K cho tiền vào túi áo đang mặc rồi tiếp tục điều khiển chiếc xe máy Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 98D1- 828.45 chở K đi trộm cắp tài sản.

Sau khi bị phát hiện mất xe cùng ngày 13/9/2023, anh PVN đã đến Công an phường Mộ Lao để trình báo sự việc.

* Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của TVN: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, mang BKS: 98D1- 828.45, số máy: JA39E1581643, số khung RLHJA3916LY243770; 02 (hai) đầu vam phá khóa bằng kim loại, kích thước dài khoảng 08 cm; 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A04e màu xanh.

Thu giữ của LTK: 01 (một) con dao bầu bằng kim loại, kích thước dài 35 cm, lưỡi dao khoảng 23 cm, rộng khoảng 8 cm, mũi dao nhọn, chuôi dao bằng gỗ; 01 (một) tay công vam phá khóa bằng kim loại dài khoảng 15 cm, có tay cầm bọc cao su màu đỏ đen; 03 (ba) đầu vam phá khóa bằng kim loại, kích thước dài khoảng 08 cm, đầu dẹt (dạng mỏ vịt); 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A51 màu xanh.

Tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Hà Đông, kết luận: “Giá trị tài sản 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh đen bạc biển kiểm soát 98D1-82845, số khung 3916LY243770, số máy JA39E1581643 (đã qua sử dụng, đã thu được tang vật) là 16.000.000 đồng.

Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh đen bạc biển kiểm soát 98D1-82845 anh N khai là tài sản của ông PVT sinh năm 1973, trú tại thôn Trung Tâm, xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (bố đẻ của anh). Ông T mua, đăng ký và sử dung chiếc xe trên từ năm 2020 đến tháng 8/2023 thì cho anh sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 19/9/2023, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 136 trả lại chiếc xe trên cho anh PVN. Anh N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu xanh tím than K chở N đi trộm cắp tài sản, là xe máy K mua trước đó khoảng 01 tháng của một người không quen biết tại khu vực Mỹ Đình, Hà Nội với giá 2.000.000 đồng. Xe không có đăng ký xe, K không nhớ biển kiểm soát của xe, chỉ nhớ biển có các số là 29-L5. Sau khi trộm cắp được chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh đen bạc biển kiểm soát 98D1-82845. K và N đã bán chiếc xe trên với giá 2.500.000 đồng cho 02 người phụ nữ không quen biết (không viết giấy tờ mua bán) nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ. Số tiền bán xe K khai để trong túi áo mặc trên người đã làm rơi khi bị kiểm tra hành chính nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại cơ quan điều tra, TVN, LTK đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 355/CT-VKS-HĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố LTK về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo TVN về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố đối với bị cáo, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại anh anh PVN có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra anh Nguyên đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông PVT vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản lấy lời khai ông T trình bày: Nguồn gốc xe máy bị cáo trộm cắp là của ông mua và đăng ký tên ông năm 2020. Đến tháng 3/2023 ông Thủy đã cho con là anh PVN quản lý và sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông duy trì quyền công tố: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo LTK từ 36 đến 42 tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/9/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo TVN từ 18 đến 24 tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/9/2023.

-Về trách nhiệm dân sự: Ngày 25/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại anh PVN chiếc xe máy, anh N đã nhận lại xe và không có đề nghị gì nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 con dao bầu dài 35cm, bản rộng nhất 8cm; 01 tay công vam phá khóa bằng kim loại dài 15cm, có tay cầm bọc cao sau màu đỏ đen; 05 đầu vam phá khóa bằng kim loại dài 8cm.

Đối với 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy thu giữ của bị cáo K, 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy thu giữ của bị cáo N, các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Phần tranh luận các bị cáo không tranh luận gì với phần luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo K, bị cáo N xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/9/2023, tại khu vực vỉa hè trước cửa số nhà 48 Vũ Trọng Khánh, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, LTK, TVN đã dùng tay công và mũi vam lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 98D1-828.45 trị giá 16.000.000 đồng của anh PVN.

Hành vi của các bị cáo LTK phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo TVN phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sư.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, sau khi chuẩn bị dụng cụ K đến đón N thì cả hai bị cáo cùng nhau đi trộm cắp tài sản. N là người cảnh giới còn K vào dùng vam mở khóa nhưng không được, sau đó N vào phá ổ khóa và nổ máy dắt xe ra ngoài.

Xét vai trò của bị cáo LTK là cao hơn, bị cáo là người chuẩn bị phương tiện, sau đó dùng xe chở bị cáo Nguyên đi trộm cắp tài sản, bị cáo đã có 02 tiền án đều về tội trộm cắp tài sản, bản án số 440/2009/HSPT ngày 30/6/2009 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2010, ngày 25/9/2011 bị cáo mới nộp tiền án phí; Bản án số 799/HSPT ngày 30.7.2012 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản, 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phat 06 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2017 ngày 24/9/2020 bị cáo được miễn thi hành án đối với khoản truy nộp sung quỹ nên chưa được xóa án tich. Bị cáo mặc dù có nhiều tiền án về tội Trộm cắp tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn coi thường pháp luật, vẫn cố ý phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Do đó cần có hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo TVN có vai trò thấp hơn bị cáo K, bị cáo đã 2 lần bị đưa ra xét xử đều về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không chịu lao động, vẫn coi thường pháp luật. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo LTK, TVN thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi bị kiểm tra đưa về trụ sở Công an phường làm việc các bị cáo đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình, tài sản thu giữ trả lại cho người bị hại được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, ngày 25/9/2023 đã trả lại cho anh PVN chiếc xe máy, anh Nguyên không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 con dao bầu dài 35cm, bản rộng nhất 8cm; 01 tay công vam phá khóa bằng kim loại dài 15cm, có tay cầm bọc cao sau màu đỏ đen; 05 đầu vam phá khóa bằng kim loại dài 8cm.

Đối với 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy thu giữ của bị cáo K, 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy thu giữ của bị cáo N, các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên trả lại cho các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo LTK, TVN phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 45; 46; 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;

1- Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo LTK, TVN phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2- Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: LTK 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt TVN 18 tháng tù. Thời hạn tú tính từ ngày 13/9/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bầu dài 35cm, bản rộng nhất 8cm; 01 tay công vam phá khóa bằng kim loại dài 15cm, có tay cầm bọc cao sau màu đỏ đen; 05 đầu vam phá khóa bằng kim loại dài 8cm.

Trả lại bị cáo LTK 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A51 màu xanh; trả lại TVN 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A04e màu xanh.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông với Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.

4. Về án phí: Bị cáo LTK, TVN mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về nội dung có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND thành phố Hà Nội;

- Công an quận Hà Đông;

- VKSND quận Hà Đông ;

- Chi cục THADS quận Hà Đông

- Các bị cáo;

- Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

Tưởng Thị Huyền

- UBND phường (xã)nơi bị cáo cư trú;

- L u HS,VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND thành phố Hà Nội;

- Công an quận Hà Đông;

- VKSND quận Hà Đông ;

- Chi cục THADS quận Hà Đông

- Cac bị cáo;

- Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

Tưởng Thị Huyền

- UBND phường (xã)nơi bị cáo cư trú;

- L u HS,VP.

Tưởng Thị Huyền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;

- Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Chi cục THADS quận Hà Đông;

- Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- UBND phường (xã)nơi bị cáo cư trú;

- L u HS,VP.

Tưởng Thị Huyền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ