- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn T và đồng phạm - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đoàn T, Trần Xuân T2, Văn Ngọc Đ, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 17-02-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 359 /2023/HS-PT Ngày: 29 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn Long
Các Thẩm phán:
Ông Trần Quốc Cường
Ông Đặng Kim Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2023/TLPT-HS ngày 24 - 03 - 2023, do có kháng cáo của bị cáo Đoàn T và ng phạm, ối v i Bản án hình sự s thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 17 - 02 - 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Đoàn T; tên gọi khác: H; sinh năm1972 tại Thừa Thiên Huế; gi i tính: nam; n i cư trú: Khối C, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình ộ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: lao ộng tự do; con ông Đoàn L ( ã chết), con bà Nguyễn Thị B ( ã chết); sống chung v i chị Nguyễn Thị H1 (trú tại S, K, K, Hà Tĩnh) và có v i nhau 02 người con chung, sinh năm 2011 và 2016.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 30/9/1991, bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất (nay là huyện T), tỉnh Đ ng Nai tuyên phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án số 56/HSST, thi hành án tại Trại giam K, Bộ C1 ến ngày 20/10/1991 thì bỏ trốn và bị Trại giam K truy nã ến ngày 17/12/1992 phạm tội tại tỉnh Thừa Thiên Huế thì bị bắt.
- Ngày 10/7/1993, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 17 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, thi hành án tại Trại giam T8, Cục C2 Bộ C1.
- Ngày 05/5/2004, Hội ng tái thẩm tỉnh Đ ng Nai quyết ịnh hủy toàn bộ bản án số 56/HSST ngày 30/9/1991 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất ể tiến hành tố tụng lại. Ngày 24/12/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đ ng Nai kết án 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, tổng hợp hình phạt 17 năm tù của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế buộc phải thi hành hình phạt chung là 18 năm 02 tháng tù, thi hành án tại Trại giam T9, Cục C2, Bộ C1 ến ngày 23/12/2007 thì chấp hành xong hình phạt.
- Ngày 20/02/2022, trong quá trình giam giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện C thì trốn khỏi n i giam và bị C quan Cảnh sát iều tra Công an huyện C ra Quyết ịnh truy nã ến ngày 20/5/2022 thị bị bắt giữ. Ngày 26/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ tuyên phạt 30 tháng tù, hiện ang chấp hành án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C từ ngày 02/12/2021 ến ngày 20/02/2022 thì trốn khỏi n i giam, ến ngày 20/5/2022 thì bị bắt giữ; hiện ang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
2. Văn Ngọc Đ; tên gọi khác: T1; sinh ngày 15 tháng 10 năm 1992 tại Quảng Trị; gi i tính: nam; n i cư trú: Khối C, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị; trình ộ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Văn Ngọc H2 sinh năm 1965, con bà Nguyễn Thị Bích L1 sinh năm 1969; gia ình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2021 cho ến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
3. Trần Xuân T2; tên gọi khác: T3; sinh ngày 21 tháng 9 năm 1980 tại Quảng Trị; gi i tính: nam; n i cư trú: Khu phố V, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lái xe; con ông Trần Xuân A ( ã chết), con bà Trần Thị T4 ( ã chết), gia ình có 05 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Vợ con: Bị cáo T2 kết hôn v i chị Nguyễn Thị B1 ở khối G, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị và có v i nhau 02 người con sinh năm 2005 và 2006 ( ã ly hôn); hiện nay ang sống v i chị Nguyễn Thị Thu L2 ở khối B, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị và có v i nhau 01 người con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2021 cho ến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn T: Ông Lê Tấn P - Văn phòng L6, Đoàn Luật sư tỉnh Q, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Văn Ngọc Đ: Luật sư Nguyễn Hoàng A1, thuộc Văn phòng L7, Đoàn Luật sư thành phố Đ và Luật sư Trần Thị Ly L3 – Công ty L8, Đoàn Luật sư tỉnh Q; ều có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T2: Ông Nguyễn Lư ng C, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nư c tỉnh Q, có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Kết luận điều tra, Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 15 phút ngày 01-12-2021, Tổ công tác g m Đoàn ặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm Miền T5, Cục P1; Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ chỉ huy Bộ ội biên phòng tỉnh Q và Phòng Cảnh sát iều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp tuần tra, kiểm soát khu vực ường Q thuộc ịa phận xã C huyện C tỉnh Quảng Trị phát hiện xe ô tô BKS 85A-038.31 chạy hư ng huyện C về thành phố Đ có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành uổi theo ến cầu T, thuộc ịa phận xã C, ra tín hiệu dừng xe ể kiểm tra nhưng người iều khiển xe ô tô không chấp hành, lùi xe quay ầu bỏ chạy thì bị Tổ công tác nổ súng bắn chỉ thiên, r i bắn thủng 04 lốp xe, tiến hành áp sát khống chế và bắt giữ Văn Ngọc Đ ang ng i ở vị trí ghế lái và Trần Xuân T2 ang ng i ở vị trí ghế phụ phía trư c. Thu giữ ở vị trí ng i của Trần Xuân T2 01 bao gai màu ỏ, bên trong chưa 11 túi ni long trong suốt, trên bề mặt có in 03 chữ A màu xanh, bên trong mỗi túi ni lông có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Trên c sở ó, C quan iều tra công an tỉnh Q tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp ối v i Đoàn T.
Ngày 02-12-2021 C quan Cảnh sát iều tra Công an tỉnh Q khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Xuân T2 tại phòng trọ số 1 nhà số A ường N, thành phố Đ thu giữ 01 túi nilon màu vàng bên trong có 09 túi ni lông trong suốt, trên bề mặt có in 03 chữ A màu xanh và 01 túi ni lông trong suốt, trên bề mặt có in 03 chữ A màu ỏ, bên trong mỗi túi có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Cùng ngày, C quan Cảnh sát iều tra kham sxets khẩn cấp chổ ở của Đoàn T thu giữ một ịa sứ màu trắng bên trên có một thẻ nhựa màu ỏ, trắng và chất rắn dạng bột màu trắng.
Trên cơ sở kết quả bắt người phạm tội quả tang, kết quả thực nghiệm điều tra, các bản kết luận giám định, lời khai của Đoàn T, Văn Ngọc Đ và Trần Xuân T2; kết quả tra cứu lits điện thoại, kết quả kiểm tra lịch sử điện thoại của các bị can và các tài liệu khác đã được thu thập có cơ sở để xác định:
Khoảng tháng 11/2021, Đoàn T ược một người àn ông tên T6 (hiện không rõ i âu, làm gì) ặt vấn ề thuê vận chuyển ma túy ể nhận tiền công thì T ng ý. Sau ó, Đoàn T lần lượt rủ Văn Ngọc Đ, Trần Xuân T2 cùng tham gia, Đ và T2 ng ý.
Sáng ngày 01/12/2021, T iện thoại nói T2 chiều lên nhà Trâncó việc. Đến khoảng 09 giờ 10 phút ngày 01/12/2021, T6 liên lạc v i T thông báo buổi chiều ma túy sẽ ược ưa về, yêu cầu T cảnh gi i cho người vận chuyển thì ược T ng ý.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/12/2021, Văn Ngọc Đ ến phòng trọ của T. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T2 ến phòng và ng i ch i cùng T, Đ và một số người không quen biết. Ng i ược một lúc thì T ưa cho T2 1.000.000 ng bảo T2 lấy xe máy i ổ xăng ể tối ón hàng về, T2 nhận tiền và iều khiển xe mô tô BKS 75H1-397.68 rời i.
Khoảng 18 giờ cùng ngày, khi T và Đ ang ở phòng trọ thì có người sử dụng số iện thoại có 03 số cuối 933 (theo lời khai của T là H Văn H3 tên thường gọi là L4) liên lạc v i T hỏi “anh T6 bảo đưa hàng về để ở đâu anh” thì T bảo “có chiếc xe ô tô màu trắng, cứ để ở đó”. Khoảng 05 ến 10 phút sau, T thấy có người iều khiển xe máy chạy qua xe ô tô BKS 85A-038.31, một lát sau người dùng số iện thoại có 03 số cuối 933 gọi lại nói ã vứt ma túy vào xe ô tô. Lúc này, T nói v i Đ “hàng ở trên xe rồi, để tý nữa T2 về lấy đưa cho T2”. Đ trả lời “Để đó em xử lý cho” và iều khiển xe ô tô BKS 85A-038.31 rời i. Sau khi ổ xăng xong, T2 iều khiển xe mô tô quay lại phòng trọ gặp T thì Đ liên lạc v i T2 bảo về cổng chào làng T ể nhận hàng, T2 iều khiển xe mô tô ến cổng chào làng T gặp Đ. Tại ây, Đ lấy gói hàng chứa ma túy bỏ vào gác ể phía trư c xe mô tô của T2. Nhận hàng xong, T2 iều khiển xe về Đ. Khi gần ến thành phố Đ, T2 liên lạc v i T hỏi “hàng để ở đâu” thì T bảo T2 ưa về phòng trọ của T2 cất giấu nên T2 ưa gói hàng chứa ma túy về cất trong tủ phía dư i cầu thang phòng trọ của mình tại số nhà A, N, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Sau khi giao ma túy cho T2, Đ iều khiển xe về hư ng huyện C thì thấy có xe ô tô màu ỏ chạy phía sau, sợ bị người khác theo dõi nên Đ iều khiển xe chạy chậm ể xe phía sau vượt qua và gọi iện thông báo cho T r i iều khiển xe về thị trấn C ăn cháo và gọi iện cho T2 ến ăn cùng. Sau khi nghe Đ thông báo, T iều khiển xe mô tô BKS 74H1-27269 i từ K về bãi á T thì gọi cho Đ hỏi “hàng hóa sao rồi?” Đ bảo “cất ở chỗ cũ” (Theo T khai: vị trí này trư c ây Đ và T ã cất giấu 01 lần, cách cầu Đ khoảng 05m về phía bên phải) nên T iều khiển xe mô tô chạy về cầu Đ. Về phía Đ và T2, sau khi ăn cháo xong, T gọi cho Đ i lên cầu Đ. Đ ang iều khiển xe ô tô BKS 85A-038.31 chở T2 ến K Quốc lộ I thì T gọi iện yêu cầu Đ quay lại cầu Đ, Đ iều khiển xe ô tô quay lại cầu Đ một oạn thì dừng xe vào lề ường bên phải. T2 hạ cửa kính ở vị ng i của mình xuống thì T ném bao gai chứa ma túy vào, T2 ể bao gai phía dư i chân của mình. Sau ó, Đ iều khiển xe ô tô BKS 85A-038.31 chở T2 cùng số ma túy này theo Quốc lộ I hư ng về thành phố Đ. Khi ến Km20+293 Quốc lộ I thuộc ịa phận thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng chức năng ón bắt giữ.
Vật chứng và tài sản bị thu giữ khi trong quá trình bắt người phạm tội quả tang gồm:
- 11 túi ni lông trong suốt, trên bề mặt có in 3 chữ A màu xanh bên trong có chứa chất rắn tinh thể màu trắng, khi tạm giữ ược niêm phong ký hiệu MT.
- Các gói ni lông trong suốt và các túi ni lon nhiều màu sắc có in hình 5 ngôi sao màu ỏ và dòng chữ GUANYINWANG, khi tạm giữ ược niêm phong, ký hiệu lần lượt BG1, BG2, BG3.
- 01 bao gai màu ỏ, kích thư c (95x58)cm; 01 túi nilon màu en ược quấn băng keo trong, một ầu trong trạng thái mở có kích thư c (60x35)cm, khi tạm giữ ược niêm phong ký hiệu lần lượt BG4, BG5.
- 01 iện thoại di ộng Iphone, màn hình cảm ứng, màu xám của Văn Ngọc Đ.
- 01 iện thoại di ộng Vivo, màn hình cảm ứng, màu xanh; 01 iện thoại di ộng Realme, màn hình cảm ứng, màu xanh của Trần Xuân T2.
- 01 xe ô tô BKS 85A-038.31, nhãn hiệu MISUBISHI XPANDER, số máy 4A91DY4114, số khung MK2XNNC1WKN001337.
- 01 ví da màu nâu bên trong có 840.000 ng tiền Ngân hàng N của Văn Ngọc Đ.
- 01 ví da màu nâu bên trong có 1.390.000 ng tiền Ngân hàng N của Trần Xuân T2.
Vật chứng và tài sản bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở Trần Xuân T2 gồm:
- 09 túi ni lông trên bề mặt có in 03 chữ A màu xanh và 01 túi ni lông trên bề mặt có 03 chữ A màu ỏ, bên trong mỗi túi có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, khi tạm giữ ược niêm phong ký hiệu MTKXT.
Tài sản do Trần Xuân T2 giao nộp g m: 01 xe mô tô BKS75H1-397.68 hiệu Yamaha Exciter, màu s n xanh, số máy G3D4E-383775, số khung RLCUG 0610 GY 366062.
Vật chứng và tài sản bị thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở Đ gồm:
- 01 xe mô tô BKS 74H1-272.69 hiệu Honda, loại Winnerx số khung RLHKC3706LY111732, số máy KC34E1191103.
- 01 chứng minh nhân dân số 197281726, mang tên Đoàn T, cấp ngày 01/8/2008; N i cấp: Công an tỉnh Q.
- 01 thẻ ATM do ngân hàng S phát hành, số tài khoản 040101011972, số I, mang tên DOAN TRAN.
- 01 thẻ ATM do ngân hàng S phát hành, số tài khoản 15101992, số I, mang tên Van Ngoc Đ1.
- 01 thẻ ATM do ngân hàng S phát hành, số tài khoản 040101011972, số I, mang tên DOAN TRAN.
- 01 thẻ ATM do ngân hàng A2 phát hành, số tài khoản có sêri 9704053002497260, mang tên DOAN TRAN.
- 20 tờ giấy bạc in mệnh giá 500.000 ng; 50 tờ giấy bạc in mệnh giá 200.000 ng; 05 tờ giấy bạc in mệnh giá 100.000 ng.
- 01 iện thoại di ộng hiệu S1, màn hình cảm ứng, vỏ màu en; 01 iện thoại di ộng hiệu N1, bàn phím số.
- 01 dĩa sứ màu trắng, hoa văn màu xanh, ường kính 18cm.
- 01 thẻ nhựa màu ỏ, trắng có ghi chữ L.POINT.
- Chất rắn, bột màu trắng, khi tạm giữ ược niêm phong ký hiệu MTKX TRÂN.
- 01 túi ni lông màu en không còn nguyên vẹn, không rõ hình dạng kích thư c, bên ngoài có quấn một số oạn băng keo trong suốt, khi tạm giữ ược niêm phong ký hiệu BAO NI LON.
- 01 hộp giấy màu trắng, kích thư c (22 x 17 x 17)cm, bên ngoài có quấn một số oạn băng keo màu en có chữ SUNHOUSE, bên trong có 01 gói ni lông trong suốt ược buộc chặt, kích thư c (14,5 x 14,5 x13)cm chứa 36 ống giấy ược cố ịnh thành hình hộp chữ nhật, khi tạm giữ ược niêm phong ký hiệu PHÁO.
* Tại bản Kết luận giám ịnh số 1184/KLGĐ-KTHS ngày 06/12/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn dạng tinh thể, màu trắng ược niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu MT gửi ến giám ịnh có khối lượng 10.997,58g là ma tuý loại Methamphetamine.
* Tại bản Kết luận giám ịnh số 1176/KLGĐ ngày 06/12/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn dạng tinh thể trong 10 túi nylon ánh số từ 01 ến 10 ược niêm phong trong thùng giấy ký hiệu MTKXT gửi ến giám ịnh có khối lượng 9.970,55g là ma tuý loại Methamphetamine.
* Tại bản Kết luận giám ịnh số 1185/KLGĐ-KTHS ngày 06/12/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn, dạng bột, màu trắng ược niêm phong trong phong bì ký hiệu MTKX TRÂN gửi ến giám ịnh có khối lượng 0,0289g là ma tuý loại Ketamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT:323 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ. Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT:35 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.
Quá trình iều tra xác ịnh xe mô tô BKS 74H1-272.69 thuộc sở hữu của anh Trần Trọng H4, anh H4 không biết Đoàn T sử dụng ể thực hiện hành vi phạm tội nên C quan Cảnh sát iều tra Công an tỉnh Q ã trả lại cho chủ sở hữu.
(Hiện các vật chứng ang giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/12/2022).
[2] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2022/HS-ST ngày 17 -02-20223 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo: Đoàn T, Trần Xuân T2, Văn Ngọc Đ phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng iểm b khoản 4 Điều 250; iểm s khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn T: Hình phạt tử hình.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 30 (Ba mư i) tháng tù theo Bản án hình sự s thẩm số 28/2022/HSST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị về tội “Trốn khỏi nơi giam”, buộc bị cáo Đoàn T phải chấp hành hình phạt chung là hình phạt tử hình.
Áp dụng iểm b khoản 4 Điều 250; iểm s khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Văn Ngọc Đ: Hình phạt tử hình.
Áp dụng iểm b khoản 4 Điều 250; iểm s, t khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Xuân T2: Hình phạt tử hình.
[3] Kháng cáo:
Ngày 20-02-2023 bị cáo Văn Ngọc Đ kháng cáo, ề nghị xem xét lại Bản án s thẩm ã tuyên phạt bị cáo v i lý do: bị cáo bị oan, bị cáo không hề biết và bàn bạc trư c v i các bị cáo về việc vận chuyển trái phép chất ma túy; bị cáo không liên quan ến vụ việc này.
Ngày 20-02-2023 bị cáo Đoàn T kháng cáo xin ược giảm hình phạt, v i lý do: bị cáo ã tích cực phối hợp v i C quan iều tra trong quá trình iều tra giải quyết vụ án; hình phạt tử hình là quá nặng.
Ngày 20-02-2023 bị cáo Trần Xuân T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v i lý do bị cáo tích cực phối hợp v i c quan iều tra phát hiện tội phạm, hình phạt tử hình là quá nặng ối v i bị cáo.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đoàn T giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo thành khẩn khai báo chịu trách nhiệm ối v i toàn bộ số lượng ma túy trên xe ô tô mà Đ và T2 ang vận chuyển và số lượng ma túy ã giao cho T2 tạm cất giấu khi vận chuyển. Nhưng bị cáo T cho rằng bị cáo Đ không biết ang vận chuyển ma túy, bị cáo T lừa ể bị cáo Đ vận chuyển ma túy cho T. Đề nghị hủy bản án s thẩm ể iều tra lại.
Người bào chữa cho bị cáo Đoàn T ề nghị giảm hình phạt cho bị cáo Đoàn T; ng thời ề nghị hủy án s thẩm ể iều tra lại cho chặc chẽ.
Bị cáo Trần Xuân T2 giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, trình bày lý do kháng cáo do hoàn cảnh khó khăn nên vận chuyển thuê ể hưởng tiền công thuê.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T2: Nguyên nhân bị cáo phạm tội do hoàn cảnh gia ình rất khó khăn, hộ cận nghèo, vợ con lại ang au ốm nên bị cáo rất dễ bị lôi kéo. Vai trò của bị cáo T2 là người thực hành dư i sự iều khiển của bị cáo T. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bố là cựu chiến binh. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo T2 ã tích cực hợp tác v i c quan iều tra. Bị cáo nhận thức rất rõ hành vi của mình là sai trái. Vì vậy, ề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Văn Ngọc Đ giữ nguyên kháng cáo kêu oan, cho rằng bị cáo không biết T2 vận chuyển ma túy trên xe, trong các cuộc iện thoại v i T thì không có việc trao ổi vận chuyển ma túy mà là vận chuyển loa.
Những người bào chữa cho bị cáo Văn Ngọc Đ trình bày tranh luận: Lời khai của bị cáo Đ trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa mâu thuẫn v i các chứng cứ, mâu thuẫn v i lời khai của các bị cáo khác. Xét thấy ây là vụ án ặc biệt nghiêm trọng, khối lượng ma túy l n, bị cáo T cũng cho rằng “Đ không phạm tội”. Đề nghị HĐXX hủy án s thẩm ể iều tra làm rõ những mâu thuẫn trong lời khai của các bị cáo, làm rõ việc bao ma túy ở âu, do ai vận chuyển ến hay do Đ cất giấu mà T lấy bỏ vào xe ưa cho T2 vận chuyển, chưa hợp lý vì các bị cáo nhận ma túy khi nào mà lại có ến số lượng ở hai n i là trên xe ô tô và ở phòng của T2. Đề nghị hủy bản án s thẩm ể iều tra lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến: tại giai oạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng ã thực hiện úng các quy ịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung: không có căn cứ ể chấp nhận các kháng cáo, ề nghị Hội ng xét xử không chấp nhận các kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm ối v i bị cáo Đoàn T, Văn Ngọc Đ, Trần Xuân T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h s vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận ịnh như sau:
. Về thủ tục tố tụng: các C quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Trị ã thực hiện úng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy ịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình iều tra, truy tố và xét xử s thẩm không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết ịnh của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Xem xét hành vi phạm tội và tội danh:
Ngày 01/12/2021, Đoàn T, Văn Ngọc Đ, Trần Xuân T2 ã có hành vi nhận vận chuyển trái phép 20.968,13g ma túy loại Methamphetamine, g m 02 gói, gói thứ nhất có khối lượng 9.970,55g là ma tuý loại Methamphetamine các bị cáo vận chuyển về Đông Hà xong tạm lưu giữ ở phòng trọ của T2 và gói thứ hai ang vận chuyển có khối lượng 10.997,58g là ma tuý loại Methamphetamine thì bị các C quan chức năng chặn bắt quả tang.
Qua nội dung các lời khai trong quá trình iều tra có trong h s vụ án của bị cáo Đoàn T và Trần Xuân T2 thể hiện rõ diễn biến việc vận chuyển trùng kh p v i diễn biến sự việc mà bị cáo Đ khai. Khi bị bắt quả tang thì Đ và T2 ang vận chuyển ma túy bằng xe của T; quá trình vận chuyển giữa các bị cáo nhiều lần liên hệ iện thoại thông tin v i nhau, qua lits iện thoại thì trùng kh p thời gian diễn biến sự việc; các bị cáo cũng thừa nhận ã iện thoại v i nhau úng v i diễn biến và thời gian xảy ra sự việc, nhưng ối v i bị cáo Đ thì không thừa nhận trao về nội dung vận chuyển ma túy mà các lần iện thoại là trao ổi về việc vận chuyển L5 và T dặn chú ý tốc ộ. Bị cáo T thừa nhận là người chủ mưu trong việc vận chuyển ma túy, ã giao cho T2 ể vận chuyển số lượng ma túy như ã nêu trong Kết luận iều tra và Bản án s thẩm; nhưng lại cho rằng ã lừa bị cáo Đ quay xe lại r i ưa ma túy cho T2 ang ng i trên xe, Đ không biết ó là ma túy.
Tại phiên tòa bị cáo T khai rằng bị bức cung, nhục hình tuy nhiên các bản tự khai bản tự khai nhận tội của bị cáo T ngay ngày 02-12-2021 (BL 322) và Bản tự khai ngày 08-12-2021 (BL 326) và các bản ghi lời khai sau ều giống nhau,phù hợp v i diễn biến quá trình xảy ra sự việc theo Kết luận iều tra. Chỉ khi ra phiên tòa thì bị cáo T m i khai là Đ không biết ang vận chuyển ma túy cho T. Trong quá trình iều tra, quá trình xet xử s thẩm và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T ều thừa nhận là người chủ công trong việc vận chuyển ma túy. Do ó không có c sở ể cho rằng bị cáo bị bức cung, nhục hình ể làm thay ổi lời khai theo hư ng làm khác i nội dung lời khai ban ầu gây bất lợi cho các bị cáo.
Bị cáo T2 cũng cho rằng bị cáo bị bức cung, nhục hình nhưng quá trình iều trả và tại phiên tòa bị cáo ều thừa nhận số lượng ma túy như kết luận iều tra. Số lượng ma túy bị cáo vận chuyển hoàn thành và tạm ể ở ngay chính ở phòng trọ bị cáo và số lượng ma túy nhận trên xe ô tô khi bị bắt quả tang. Do ó, không có c sở ể cho rằng bị cáo bị bức cung, nhục hình ể làm thay ổi lời khai theo hư ng làm khác i nội dung lời khai ban ầu gây bất lợi cho các bị cáo.
Đối v i bị cáo Đ là người ược T giao xe ô tô BKS 85A – 038.31, ây là chiếc xe mà “người sử dụng số điện thoại có 03 số cuối 933’ bỏ ma túy vào xe; sau ó Đ ưa i giao cho T2 một gói vận chuyển về Đ và một gói “cất ở chỗ cũ“; ể sau ó T chạy ến lấy bỏ vào xe ể tiếp tục vận chuyển i thì bị bắt quả tang. Bị cáo Đ không phải là người ược bị cáo T và T2 thuê vận chuyển, mà bị cáo có sự ng ý từ trư c cùng tham gia vận chuyển, ến phòng trọ T từ lúc trưa ngày 01-12-2021 và trực tiếp sử dụng xe ô tô của T BKS 85A – 038.31. (Đ và T2 khai ngày 01/12/2021 có tự ý sử dụng ma túy tại phòng trọ của T). Diễn biến sự việc từ khi nhận ma túy giữa T và người tên L4, r i vận chuyển i ma túy i thì Đ luôn có mặt ở nhà T. Quá trình vận chuyển giữa Đ và T thường xuyên liên lạc thông tin cho nhau. T và T2 ược xác ịnh rõ là vận chuyển ma túy về thành phố Đ, trong khi Đ là người iều khiển xe BKS 85A – 038.31; Đ thừa nhận có dừng xe ở cầu Đ và T2 có hạ kính xe xuống; ây là thời iểm T bỏ gói ma túy vào xe ô tô. Diễn biến qua video ghi hình lại cho thấy khi bị lực lượng chức năng chặn bắt, bị cáo có dừng xe một lúc, khi biết ây là lực lượng chức năng thì bị cáo m i có phản ứng quyết liệt lùi xe va chạm mạnh v i các xe chặn bắt nhằm tháo chạy, nhưng bị bắn thủng các lốp xe và bị chặn ón ở hai ầu nên không thể chạy thoát.
Đối v i ý kiến tranh luận của người bào chữa cho rằng chưa xác ịnh ược số ma túy mà T bỏ vào xe ô tô do âu mà có, ai vận chuyển. Tuy nhiên, ây là vụ án về hành vi vận chuyển trái phép ma túy và bị bắt quả tang về số lượng ma túy và các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy có thực bị thu giữ này. Bị cáo T vận chuyển bỏ vào xe ô tô, trên xe có Đ và T2 nhận. Những người tham gia vào quá trình vận chuyển khi bị phát hiện ều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma túy.
(Đối v i 0,0289g ma túy loại Ketamine thu giữ tại phòng trọ của Đoàn T chưa ến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy).
Hành vi của các bị cáo Đoàn T, Văn Ngọc Đ, Trần Xuân T2 ã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo iểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự như quyết ịnh của Bản án s thẩm là có căn cứ, úng pháp luật.
Kháng cáo cho rằng mình không phạm tội của bị cáo Văn Ngọc Đ không có c sở chấp nhận.
Xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:
Đây là vụ án ng phạm có bàn bạc, phân công vai trò từ trư c và thống nhất từ ầu t i cuối giữa các bị cáo T, T2, Đ. Trong vụ án này, Đoàn T là người có vai trò chủ mưu, cầm ầu; Văn Ngọc Đ, Trần Xuân T2 là những người có vai trò thực hành tích cực.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: trong một khoảng thời gian nhất ịnh vào chiều tối ngày 01-12-2021, Đoàn T, Văn Ngọc Đ, Trần Xuân T2 ã thực hiện 02 lần vận chuyển ma túy và bị phát hiện thu giữ ở hai ịa iểm khác nhau. Vì vậy, các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy ịnh tại iểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình iều tra và tại các phiên tòa, bị cáoTrần Xuân T2 và bị cáo Đoàn T ã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên ược hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy ịnh tại iểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự . Riêng ối v i bị cáo Trần Xuân T2 ã tích cực hợp tác v i C quan iều tra trong quá trình giải quyết vụ án nên ược hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy ịnh tại iểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối v i bị cáo Văn Ngọc Đ, mặc dù ngay từ những lời khai ban ầu bị cáo ã thành khẩn khai báo, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án sau ó và tại các phiên tòa bị cáo lại thay ổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, chứng cứ buộc tội các bị cáo căn cứ vào những bản tự khai ban ầu, hành vi không nhận tội của bị cáo Đ không làm ảnh hưởng ến nội dung của vụ án nên bị cáo vẫn ược hưởng tình tiết “thành khẩn khai báo” là tình tiết giảm nhẹ theo quy ịnh tại iểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Đoàn T còn bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 30 (Ba mư i) tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo bản án số 28/2022/HSST ngày 26/8/2022. Vì vậy, áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự ể tổng hợp hình phạt ối v i bị cáo T.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là ặc biệt nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy vừa gây hậu quả nguy hại cho sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, vừa là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác . Xét tính chất và mức ộ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, trong vụ án này bị cáo T là người chủ mưu, các bị cáo T2, Đ tham gia thực hành; mức dù mức ộ và hành vi thấp h n nhưng khi bị bắt quả tang thì bị cáo T2 và Đ là người ang vận chuyển ma túy v i số lượng rất l n; việc vận chuyển thành công sẽ gây hậu quả ặc biệt l n cho xã hội. Do ó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc m i tư ng xứng v i tính chất, mức ộ hành vi phạm tội, phù hợp v i khối lượng ma túy mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự, bảo ảm sự răn e và phòng ngừa chung.
Bản án hình sự s thẩm ã xem xét, ánh giá úng các tình tiết của vụ án, áp dụng úng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và ã quyết ịnh hình phạt tư ng xứng Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết, sự kiện làm thay ổi nội dung của vụ án, không có tình tiết giảm nhẹ m i, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo; Hội ng xét xử phúc thẩm giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự s thẩm ối v i cả 03 bị cáo Đoàn T, Văn Ngọc Đ, Trần Xuân T2.
Các quyết ịnh khác còn lại của Bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội ng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Về án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo không ược chấp nhận nên các bị cáo T, Đức T7 phải chịu mỗi bị cáo là 200.000 ng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ iểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đoàn T, Trần Xuân T2, Văn Ngọc Đ, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 17-02-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
2. Áp dụng iểm b khoản 4 Điều 250; iểm s khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn T: hình phạt Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 30 (Ba mư i) tháng tù theo Bản án hình sự s thẩm số 28/2022/HSST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị về tội “Trốn khỏi nơi giam”, buộc bị cáo Đoàn T phải chấp hành hình phạt chung là hình phạt Tử hình.
3. Áp dụng iểm b khoản 4 Điều 250; iểm s khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Văn Ngọc Đ hình phạt Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
4. Áp dụng iểm b khoản 4 Điều 250; iểm s, t khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáoTrần Xuân Tâm hình phạt Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
5. Căn cứ khoản 4 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Đoàn T, Trần Xuân T2, Văn Ngọc Đ ể ảm bảo thi hành án.
Căn cứ iểm d khoản 1 Điều 367 của Bộ luật Tố Tụng hình sự: các bị cáo
Đoàn T, Trần Xuân T2, Văn Ngọc Đ ược gửi n xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nư c Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (ngày 29-8-2023).
6. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Đoàn T, Trần Xuân T2, Văn Ngọc Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 ng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s thẩm và 200.000 ng án phí hình sự thẩm.
Các bị cáo Đoàn T, Trần Xuân T2, Văn Ngọc Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 ng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
7. Các quyết ịnh khác của Bản án s thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao (Vụ 1); - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Trị - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Phòng HSNV CA tỉnh Quảng Trị; - Cục THADS tỉnh Quảng Trị; - Trại tạm giam công an tỉnh Quảng Trị; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu h s . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Long |