- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đ phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2019/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 359/2020/HS-PT Ngày: 21/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân;
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Tuyển;
Bà Lê Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trung Quy, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 21 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh L, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 228/2020/TLPT-HS ngày 17 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Đ phạm tội “Giết người”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2019/HS-ST ngày 15/11/2019 của Toà án nhân dân tỉnh L.
* Bị cáo có kháng cáo:
Ông Đ, sinh năm 1976; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khối phố 6A, thị trấn B, huyện B, tỉnh L; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Nhân viên bảo vệ Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh L; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; con ông T và bà M; có vợ N và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt từ ngày 02/8/2019; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông H, Luật sư của Văn phòng Luật sư S thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L; có mặt.
- Bị hại:Ông A, sinh năm 1984 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại A: Ông G, sinh năm 1963. Trú tại: Thôn P, xã X, huyện B, tỉnh L; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 02/8/2019, ông Đ đến nhà ông A chơi cùng ăn cơm, uống rượu với một số người trong đó ông V, sau khi ăn uống xong, đầu giờ chiều ông Đ đi đến Hạt kiểm lâm huyện B, tỉnh L làm việc.
Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày 02/8/2019, ông Đ đi qua thấy trong nhà ông C có ông A, ông V, ông D và ông C đang ngồi uống bia thì ông Đ đi vào ngồi cùng. Khi đó, ông A đang đi ra chỗ chị ông K là con gái ông C bán thịt lợn trước cửa nhà mua gan lợn mang vào bếp nhà ông C cùng ông V chế biến đồ ăn, lúc này máy điện thoại của ông Đ hết pin, nhìn thấy chiếc điện thoại của ông A đang cắm nạp ở trên chiếc ghế cạnh cửa ra vào gian bếp, ông Đ đã đi đến rút điện thoại của ông A ra để cắm vào máy điện thoại của ông Đ thì ông C nói "thằng A đang sạc mày rút của nó ra làm gì", Ông Đ trả lời "hết pin thì sạc, cái sạc đáng bao nhiêu tiền", nghe thấy ông Đ có lời nói bất nhã thiếu văn hóa, chị ông K là con gái của ông C có nói với ông Đ "nhờ thì bảo nhờ đi, oai cái gì", nghe thấy vậy ông Đ liền rút cả điện thoại lẫn dây nạp ra khỏi ổ điện rồi cầm dây nạp ném cục sạc xuống nền đất nhiều lần rồi vứt ra trước cửa nhà. Thấy vậy, ông A từ dưới bếp đi lên nói "bác làm cán bộ mà không mua nổi cái sạc điện thoại à" thì ông Đ nói "cái sạc đáng đéo bao nhiêu tiền" rồi hai người cãi chửi nhau, ông A nói "mày đập sạc của tao thì tao đập chết mày". Ông Đ thách thức "mày giỏi thì đập đi", lúc này ông A cầm chiếc ghế nhựa màu xanh dúi về phía trước mặt của ông Đ thì ông Đ giơ tay phải lên gạt đỡ, chân ghế va vào thái dương phải của ông Đ làm sây xước nhẹ cánh tay và thái dương phải của ông Đ, ông A thả chiếc ghế xuống rồi đi ra giữa phòng khách thì ông Đ đi xuống bếp lấy con dao nhọn để trên giá đựng bát đĩa nhà ông C đi lên tiến sát sau lưng ông A, tay phải cầm dao vung lên đâm một nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng vai phải của ông A, ông Đ rút dao ra thì ông A loạng choạng rồi gục ngã xuống nền nhà, ông D và ông V lao vào can ngăn thì ông Đ vứt con dao ra trước cửa nhà rồi đi về. Ông A được mọi người đưa đến trung tâm y tế huyện B, tỉnh L cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng đã tử vong (chết trên đường đi cấp cứu).
Ông Đ đã về nhà, sau đó quay lại nhà ông C nhặt lấy con dao đã gây án rồi đến Công an huyện B, tỉnh L đầu thú giao nộp con dao gây án và khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 69/2019/TT ngày 01/10/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận nguyên nhân chết của ông A: Suy tuần hoàn, suy hô hấp, mất máu cấp hậu quả của vết thương thấu phổi phải do vật sắc nhọn.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2020/HSST ngày 15/11/2020, Tòa án nhân dân tỉnh L đã căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Tuyên bố bị cáo Ông Đ phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo ông Đ 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/8/2019.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về việc xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 22/11/2019, ông Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt do quá ân hận về hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo phân tích nguyên nhân điều kiện phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, hành vi của bị cáo chưa đến mức côn đồ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” đối với bị cáo và do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng thêm Điều 54 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh L đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra. Do vậy, có căn cứ xác định: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 02/8/2019 ông Đ đã có hành vi dùng dao nhọn đâm anh ông A dẫn đến nạn nhân tử vong. Tòa án nhân dân tỉnh L xét xử bị cáo ông Đ về tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Xuất phát từ việc bị cáo say rượu, rồi ứng xử không phù hợp với anh ông A dẫn đến 2 bên xô xát. Từ va chạm nhỏ mang tính nhất thời mà bị cáo đã dùng dao nhọn đâm vào nơi trọng yếu trên cơ thể gây ra vết thương xuyên thấu từ đỉnh phổi phải đến thùy giữa phổi phải làm ông A tử vong. Hành vi trên thể hiện sự quyết liệt và đặt biệt nguy hiểm, tước đoạt quyền được sống của người bị hại, coi thường pháp luật nên việc áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo; mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới là gia đình bị cáo đạt danh hiệu Gia đình văn hóa nhiều năm nhưng mức hình phạt đã áp dụng là tương xứng với tính chất và hậu quả của hành vi phạm tội nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật;
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Quốc Hội ngày 30/12/2016.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2019/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh L.
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015;
Xử phạt bị cáo ông Đ 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/8/2019.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyển
Lê Thị Mai
Nguyễn Thị Thanh Xuân
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh L; - VKSND tỉnh L; - Công an tỉnh L; - Trại tạm giam CA tỉnh L; - Cục THADS tỉnh L; - Bị cáo (qua TTG); - Lưu HS, HCTP. CÁC THẨM PHÁN Phạm Văn Tuyển Lê Thị Mai | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Xuân THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Xuân |