vanban.org

Bản án 359/2020/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Châu A.

[1] Về tình cảm: chị Nguyễn Thị Châu A được ly hôn với anh Nguyễn Tấn B. [2] Về con chung: giao cháu Nguyễn Tấn E, sinh ngày 27/08/2009 cho anh Nguyễn Tấn B tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Châu A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Châu A.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 359/2020/HN-ST
Ngày: 20/07/2020
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Quốc Thuần

+ Bà Lê Thị Ngọc Ánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 175/2020/TLST-HNGĐ ngày 27/4/2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2020/QĐXX ST-HNGĐ ngày 01 tháng 07 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Châu A – sinh năm 1990; (có mặt)

HKTT: ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Chổ ở hiện nay: ấp M1, xã N1, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Nguyễn Tấn B - sinh năm: 1982 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng C.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hoài D – Giám đốc. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu M2, Thị trấn N2, huyện Chợ gạo, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn ly hôn và quá trình tố tụng chị Nguyễn Thị Châu A trình bày: chị và anh B cưới nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, anh B thường xuyên gây gỗ, chửi mắng, không tôn trọng chị và gia đình chị, không lo cho gia đình. Vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh B.

- Về con chung: có 01 cháu tên Nguyễn Tấn E, sinh ngày 27/8/2009 hiện đang sống với anh B. Ly hôn chị đồng ý để anh B nuôi cháu E, không cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung, nợ riêng: không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Tấn B trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị A về thời gian kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn. Trong thời gian ly thân từ tháng 09/2018 đến nay, chị A về bên nhà cha mẹ ruột sống, anh có đến tìm gặp chị A để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay còn thương vợ, thương con nên anh không đồng ý ly hôn với chị A.

- Về con chung: có 01 cháu tên Nguyễn Tấn E, sinh ngày 27/8/2009 hiện đang sống với anh. Ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu E, không yêu cầu chị A cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có.

- Về nợ riêng: Nợ Ngân hàng C – phòng giao dịch C1 số tiền 50.000.000 đồng. Ly hôn anh sẽ tự trả khoản nợ này.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C, ông Trần Hoài D, giám đốc ngân hàng trình bày: anh Nguyễn Tấn B có vay tại Ngân hàng số tiền 50.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 6904-LAV-20172714 ký kết ngày 20/6/2017. Hạn trả nợ cuối cùng ngày 4/6/2023. Đây là vụ án ly hôn giữa anh B và chị A không ảnh hưởng đến nợ vay cũng như tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng. Vì vậy ngân hàng không tham gia tố tụng và xin vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A. Về tình cảm: chị A được ly hôn với anh B. Về con chung: giao cháu Nguyễn Tấn E, sinh ngày 27/8/2009 co anh B trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: không có. Về nợ chung: không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Nguyễn Thị Châu A và anh Nguyễn Tấn B sống chung năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N vào năm 2009. Nay chị A yêu cầu ly hôn với anh B và anh B cư trú trên địa bàn huyện Chợ Gạo nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Tấn B và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đại diện Ngân hàng ông Trần Hoài D có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B, ông D theo quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Châu A, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về tình cảm: chị A yêu cầu ly hôn với anh B. Nguyên nhân ly hôn chị A trình bày do vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, không hợp tính nhau, anh B thường xuyên gây gỗ, chửi mắng, không tôn trọng chị và gia đình chị, không lo cho gia đình. Anh B vắng mặt nhưng tại bản tự khai anh trình bày quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn như chị A trình bày. Trong thời gian ly thân từ tháng 09/2018 đến nay, chị A về bên nhà cha mẹ ruột sống, anh B có đến tìm gặp chị A để hàn gắn tình cảm nhưng không được, điều này chứng tỏ giữa chị A và anh B trong cuộc sống đã có mâu thuẫn xảy ra. Do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị không thể cùng chung sống để xây dựng gia đình hạnh phúc nên chị A yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Tấn E, sinh ngày 27/8/2009 hiện đang sống với anh B. Ly hôn chị A đồng ý để anh B tiếp tục nuôi con, anh B cũng đồng ý nuôi con, không yêu cầu chị A cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy cháu E hiện đang sống ổn định với anh B và tại bản tự khai cháu cũng có nguyện vọng sống với ba nên tiếp tục giao cháu E cho anh B nuôi dưỡng, anh B không yêu cầu chị A cấp dưỡng nên chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: chị A, anh B trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: chị A, anh B trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ riêng: anh B trình bày Nợ Ngân hàng C – phòng giao dịch C1 số tiền 50.000.000 đồng. Ly hôn anh sẽ tự trả khoản nợ này. Phía ngân hàng trình bày không yêu cầu giải quyết trong vụ án ly hôn giữa chị A và anh B nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu có tranh chấp, Ngân hàng sẽ khởi kiện giải quyết trong vụ án khác.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Châu A.

[1] Về tình cảm: chị Nguyễn Thị Châu A được ly hôn với anh Nguyễn Tấn B.

[2] Về con chung: giao cháu Nguyễn Tấn E, sinh ngày 27/08/2009 cho anh Nguyễn Tấn B tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Châu A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được quyền ngăn cản việc đi lại, thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.

[3] Về án phí: chị Nguyễn Thị Châu A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003589 ngày 23/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo nên chị đã nộp xong.

Chị A được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với anh B, Ngân hàng vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Cỡ chữ