vanban.org

Bản án 359/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 12/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 27/QĐ-VC2 ngày

16/7/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; hủy bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/HSST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 27/QĐ-VC2 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 359/2019/HS-PT
Ngày: 12 - 11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Long

Các thẩm phán:

Ông Đặng Kim Nhân

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Đức, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.

Vào ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình

Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ

lý số 271/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo: Nguyễn Thị

Thanh N, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo, bị

hại và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng,

đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án

nhân dân tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo; bị kháng cáo, kháng nghị:

NGUYỄN THỊ THANH N - Sinh năm: 1981; nơi cư trú: Bình Định; nghề

nghiệp: Nguyên cán bộ Công an; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới

tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh

năm: 1955 và bà Bùi Thị B, sinh năm 1962; chồng: Trần Hữu C, sinh năm 1977,

con: Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không;

bắt tạm giam ngày 07/6/2018; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hồ K – Luật sư, Văn phòng luật sư

Bình Định thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Định. Địa chỉ: tỉnh Bình Định; có mặt.

- Người bị hại:

1. Bà Huỳnh Thị Bảo H, sinh năm 1978. Trú tại: T 2, thị trấn T, T, tỉnh

Bình Định; có mặt.

2. Ông Lê Văn L, sinh năm 1964. Trú tại: thị trấn D, T, tỉnh Bình Định; vắng

mặt.

3. Ông Huỳnh Thanh V, sinh năm 1978. Trú tại: T, tỉnh Bình Định; có mặt.

4. Bà Võ Thị Mỹ N, sinh năm 1983. Trú tại: Thôn N 2, P, T, Bình Định; vắng

mặt.

5. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980. Trú tại: thị trấn T, T, Bình Định; vắng

mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngô Thị Tuyết M, sinh năm 1981. Trú tại: thị trấn T, T, Bình

Định; xin vắng mặt.

2. Ông Phùng Thanh T, sinh năm 1983. Trú tại: T 1, thị trấn T, T, Bình

Định; xin vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1993. Trú tại: tỉnh Bình Định; vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1988. Trú tại: thị trấn T, huyện T, tỉnh

Bình Định; xin vắng mặt.

5. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955. Trú tại: thị trấn T, T, Bình Định;

xin vắng mặt.

6. Ông Trần Hữu C, sinh năm: 1977. Trú tại: T 1, thị trấn T, T, Bình

Định; vắng mặt.

7. Ông Châu Đình S, sinh năm 1978. Trú tại: thị trấn D, T, Bình Định;

vắng mặt.

8. Ông Lê Minh C, sinh năm 1987. Trú tại: P, T, Bình Định; vắng mặt.

9. Ông Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1978. Trú tại: thành phố Q, tỉnh Bình

Định; vắng mặt.

10. Ông Trương Đình T, sinh năm 1977. Trú tại: T, tỉnh Bình Định; vắng

mặt.

11. Bà Hồ Diệp C, sinh năm 1971. Trú tại: thị trấn T, T, Bình Định; vắng

mặt.

12. Ông Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1983. Trú tại: P, T, Bình Định; vắng

mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thanh N

T, tỉnh Bình Đ

-

N

N Tính đến thời điểm bị phát hiện, N đã đi vay của hơn 20 người với số tiền khoảng hơn 4 tỷ đồng. Do lo sợ các chủ nợ đến Cơ quan đòi nợ ảnh hưởng đến công tác, Nguyễn Thị Thanh N duy trì việc trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận còn gốc thì hẹn kéo dài thời gian và trả bằng hình thức vay của người sau trả cho người

trước. Để tạo niềm tin cho đối với người cho vay, N

H

nh, Chứng minh nhân dân của Trần Hữu

C (chồng N

Công an nhân dân (CAND)

N

Nguyễn Thị Thanh N

N chiếm đoạt.

Quá trình điều tra đã xác định được trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm

2016 đến tháng 7 năm 2017, Nguyễn Thị Thanh N đã nhiều lần thực hiện hành

vi gian dối chiếm đoạt tài sản của các cá nhân trên địa bàn huyện T cụ thể như

sau:

* Vay của Huỳnh Thị Bảo H:

Do quen biết với Huỳnh Thị Bảo H

T, Nguyễn Thị Thanh N

bà H

H

-

S (nguyên cán bộ

Công an huyện T

N thế chấp thẻ Đảng viên của mình để

vay tiền của người khác. Sau đó, ông S đã trả lại tiền vay, nhưng N không trả lại

thẻ Đảng viên cho ông S. Ngày 29/01/2017, N

S đem

thế chấp cho bà H, nói dối với bà H

l

H giữ. Số

tiền vay được, N

H

N

tiêu xài cá nhân.

- Lần thứ hai: Ngày 29/3/2017, Nguyễn Thị Thanh N

CMCAND của Phùng Thanh T (cán bộ Công an huyện T) nói dối “sử dụng thế

chấp vay tiền trang trải cho Cơ quan, vài bữa trả lại”. T tin N nói thật nên cho

mượn. N đem thế chấp cho bà H để vay số tiền 450.000.000đ; lãi thỏa thuận

35.000.000đ/tháng với lý do nói dối “vay giúp cho T

N viết “giấy mượn tiền” đưa cho bà H giữ. Số tiền vay

được, N

H

415.000.000đ N

cá nhân.

- Lần thứ ba: Ngày 27/4/2017, Nguyễn Thị Thanh N hỏi mượn giấy

CMCAND của Nguyễn Hữu V (cán bộ Công an huyện T), rồi nhờ một người

khác (N không xác định là ai) viết “giấy mượn tiền” ghi tên người mượn là

Nguyễn Hữu V và thế chấp giấy CMCAND của V

H số tiền

500.000.000đ, tiền lãi thỏa thuận 35.

H

V

Nguyễn Thị Thanh

N

H

N

xài cá nhân.

- Lần thứ tư: Trước đó, Nguyễn Thị Thanh N nhờ Huỳnh Thanh V (cán bộ

Công an huyện T), thế chấp Giấy CMCAND của V

N T số tiền 200.000.000đ. Đến ngày 17/5/2017, N thấy bà H cho vay tiền lãi suất thấp hơn, N chuyển sang vay tiền của bà H để trả nợ cho bà N. N nói dối với bà H là cần “vay tiền giúp cho V để V trả bà N. Bà H yêu cầu V phải thế chấp Giấy CMCAND thì mới đồng ý cho vay. N hỏi bà N mượn lại Giấy CMCAND của V và nhờ một người nào đó (hiện không nhớ là ai) viết “Giấy mượn tiền” ghi tên Huỳnh Thanh V

H 35.000.000đ/tháng và đưa giấy CMCAND của V cho bà H cất giữ. N

H

ng là 35.000.000đ, còn lại chiếm đoạt 415.000.000đ.

Nguyễn Thị Thanh N

T, nên N đến gặp bà H hỏi mượn lại 03 giấy CMCAND đ

Phùng Thanh T, Nguyễn Hữu V

V là cán bộ Công an huyện T

H chỉ đồng ý cho mượn 1 ngày. Sau khi lấy lại được 03 giấy CMCAND này, N đem 03 CMCAND thật đến Tiệm ảnh “Trung Đ phố Q

H giữ, còn các giấy CMCAND thật N mang trả cho T, V

V

-

Nguyễn Thị Thanh N

T -

T

T làm thủ tục giao nộp thẻ Ngành cho Công an tỉnh, thì N nói cho mượn lại giấy CMCAND. Do cùng là cán bộ trong đơn vị, nên anh T nể nang và đã đưa Nguyễn Thị Thanh N mượn lại CMCAND của N và của anh Lê Minh C. Ngay sau đó, N đem 02 giấy CMCAND thật của N và của anh C

Đ

Q

T để nộp Công an tỉnh kiểm tra.

Đến chiều cùng ngày, Nguyễn Thị Thanh N nhờ Lê Văn Bảo (là chiến sỹ

phục vụ có thời hạn tại Công an huyện T) viết giúp cho N tờ “giấy mượn tiền” có nội dung: “Lê Minh C mượn của chị Huỳnh Thị Bảo H số tiền 150.000.000đ”. N dùn H, nói dối là Lê Minh C đứng tên mượn tiền, hẹn vài ngày trả lại cũng như trả hết các khoản vay trước đó. Số tiền vay được N

.

-

Nguyễn Thị Thanh N

N thế chấp cho bà H

N tiêu xài cá nhân.

Như vậy, từ ngày 29/01/2017 đến ngày 06/7/2017, Nguyễn Thị Thanh N

H

2.160.000.000đ.

* Vay của Lê Văn L:

N hỏi mượn

tiền của ông Trương Đình T

T), nhưng ông T không có

tiền cho mượn nên dẫn N

L ở T

N va

ông L

L, N

T

C

cán bộ Công an huyện T

T

lòng tin với ông L, N

C cho ông L giữ và N

L

ông L

N

C

N

* Vay của Huỳnh Thanh V: Do mối quan hệ cùng đơn vị Công an huyện

T, Nguyễn Thị Thanh N đưa ra nhiều lý do nhờ Huỳnh Thanh V vay tiền của các

Tổ chức tín dụng và các cá nhân ngoài xã hội rồi đưa cho N vay lại sau đó chiếm

đoạt cụ thể:

- Lần thứ nhất: Trước ngày 16/02/2017, Nguyễn Thị Thanh N nhờ V vay

tín chấp tại Ngân hàng Hợp tác xã Chi nhánh Bình Định. Ngày 16/02/2017, V

làm thủ tục vay tại Ngân hàng này được 200.000.000đ, sau đó đưa cho N mượn

130.000.000đ, N viết giấy mượn đưa cho V giữ. N sử dụng trả nợ ngân hàng

thay cho V 4 tháng x 3.340.000đ/tháng = 13.360.000đ, số còn lại 116.640.000đ

N

- Lần thứ hai: Ngày 07/4/2017, Nguyễn Thị Thanh N hỏi mượn Huỳnh

Thanh V số tiền 50.000.000đ với lý do “để giải quyết công việc cho cơ quan, hẹn

1 tháng sẽ trả lại”. N viết “giấy mượn tiền” đưa V

N

- Lần thứ ba: Ngày 29/5/2017, Nguyễn Thị Thanh N nói dối với V “cần

tiền mua lô đất phía sau khu nhà làm việc Huyện Đoàn T” và gợi ý Huỳnh Thanh

V hỏi giúp người khác vay tiền cho N, nếu mua được đất N sẽ đem thế chấp

ngân hàng vay tiền đưa cho V để V trả nợ, đồng thời N hứa sẽ bồi dưỡng cho V.

Huỳnh Thanh V đã mượn của anh Nguyễn Quý Đ ở 15 Lý Thường Kiệt, thành

phố Q được 350.000.000đ rồi đưa cho N

N

- Lần thứ tư: Ngày 21/6/2017, Nguyễn Thị Thanh N tiếp tục nói Huỳnh

Thanh V nhờ vay giúp tiền của người khác cho N để đáo hạn ngân hàng. Tin lời

N nói, V đi vay của anh Võ Thiên S ở thành phố Q được 200.000.000đ để rồi

đưa cho N mượn. Sau đó, N viết “giấy mượn tiền” đưa V

ạt

N

Như vậy, từ ngày 16/02/2017 đến ngày 21/6/2017, Nguyễn Thị Thanh N

V và nhờ V vay tiền của ngân hàng và các cá nhân cho N

* Vay củaVõ Thị Mỹ N

Thông qua các mối quan hệ xã hội, Nguyễn Thị Thanh N biết Võ Thị Mỹ

N ở thôn N 2, xã P, huyện T có cho vay tiền. N đến làm quen, giới thiệu mình là cán bộ Công an huyện T, nói dối cần vay tiền để chi cho các hoạt động của Công an huyện T. Bằng thủ đoạn như trên, N đã hỏi vay tiền của Võ Thị Mỹ N nhiều lần sau đó chiếm đoạt, cụ thể sau:

- Lần thứ nhất: Ngày 27/3/2017 âm lịch, Nguyễn Thị Thanh N hỏi vay của

Võ Thị Mỹ N số tiền 50.000.000đ, N viết giấy mượn tiền đưa cho N giữ. Số tiền vay được, N sử dụng trả lãi cho N 4.000.000đ, còn lại chiếm đoạt 46.000.000đ.

- Lần thứ hai: Ngày 29/3/2017 âm lịch, Nguyễn Thị Thanh N vay của Võ

Thị Mỹ N số tiền 50.000.000đ, N viết giấy mượn tiền đưa cho N giữ. Số tiền vay được, N sử dụng trả lãi cho N 4.000.000đ, còn lại chiếm đoạt 46.000.000đ.

- Lần thứ ba: Ngày 04/4/2017 âm lịch, Nguyễn Thị Thanh N vay của Võ

Thị Mỹ N số tiền 200.000.000đ, N viết giấy mượn tiền đưa cho N giữ. Số tiền vay được, N sử dụng trả lãi cho N 4.000.000đ, còn lại chiếm đoạt 196.000.000đ.

- Lần thứ tư: Ngày 11/4/2017 âm lịch, Nguyễn Thị Thanh N vay của Võ

Thị Mỹ N số tiền 200.000.000đ, N viết giấy mượn tiền đưa cho N giữ. Số tiền vay được, N sử dụng trả lãi cho N 12.000.000đ, còn lại chiếm đoạt 188.000.000đ.

- Lần thứ năm: Ngày 23/4/2017 âm lịch, Nguyễn Thị Thanh N vay của Võ

Thị Mỹ N số tiền 100.000.000đ, N viết giấy mượn tiền đưa cho N giữ. Số tiền vay được, N sử dụng trả lãi cho N 6.000.000đ, còn lại chiếm đoạt 94.000.000đ.

Ngoài ra, Võ Thị Mỹ N còn tố giác Nguyễn Thị Thanh N chiếm đoạt

85.000.000đ từ việc N hứa hẹn làm thủ tục xuất ngũ cho Nguyễn Minh Cảnh (cán bộ Công an huyện T). Trước đó, Cảnh vay của N 170.000.000đ, nhưng Cảnh đã bỏ trốn không trả nợ cho N. Biết N có thể giúp N thu hồi số tiền Cảnh nợ, nên giữa N và N thỏa thuận với nhau, nếu N làm thủ tục để Công an huyện T thanh toán chế độ nghỉ việc cho Cảnh được số tiền khoảng 200.000.000đ, thì N sẽ chi cho N số tiền 85.000.000đ (50% của số tiền Cảnh nợ N). Võ Thị Mỹ N khai đã đưa trước cho N 85.000.000đ và N có viết đưa cho N tờ giấy trong đó có ghi nội dung: “Tiền ra quân vụ thằng Cảnh thị trấn ra quân. N chịu trách nhiệm khi tiền ra quân của Cảnh, nhận tiền Cảnh nợ N: 85.000.000đ (Tám mươi lăm triệu). Hẹn đến ngày mùng 02/6/2017 trả”. Sau đó, do N không đòi được tiền của Cảnh nên đã yêu cầu N trả lại. Tuy nhiên, qua các tài liệu điều tra và tiến hành kiểm tra tin nhắn trên điện thoại di động của N có lưu giữ tin nhắn của N gửi cho N chỉ có nội dung “mày ăn tiền tao 5 triệu vụ thằng Cảnh”. Do đó, chưa đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thị Thanh N có hành vi chiếm đoạt số tiền này của N, nên thấy

cần tách yêu cầu của Võ Thị Mỹ N đối với số tiền 85.000.000 đ để giải quyết

bằng một vụ án dân sự khác.

Như vậy, từ ngày 27/3/2017 âm lịch đến ngày 23/4/2017 âm lịch, Nguyễn

Thị Thanh N

N

* Vay của Nguyễn Thị T:

Bà Nguyễn Thị T sinh năm 1980, địa chỉ: Ki ốt số 8, Chợ Bồ Đề mới, thị

trấn T, huyện T, Bình Định là bạn học phổ thông với Nguyễn Thị Thanh N.

Ngày 13/9/2016, N đến gặp T, nói dối đang cần tiền “mua gỗ ở Cảng Q”, hỏi

mượn 30.000.000đ hẹn 10-15 ngày sau sẽ trả lại. Biết N đang xây nhà, nên T tin

lời đưa cho N mượn số tiền 30.000.000đ. N viết “Giấy mượn tiền” đưa cho T

giữ. Số tiền mượn được, N sử dụng trả lại cho T 10.000.000đ, còn lại chiếm đoạt

20.000.000đ.

Ngày 05/4/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định có Kết

luận giám định số: 36/KLGĐ-PC54 xác định: 05 (năm) giấy CMCAND mang

tên Phùng Thanh T, Nguyễn Hữu V, Huỳnh Thanh V, Nguyễn Thị Thanh N và

Lê Minh C thu giữ được đều là giả.

Với các nội dung trên,

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/HSST ngày 20/6/2019 của Tòa án

nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài

sản”.

- Căn cứ vào: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51;

khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N 9 (chín) năm tù. Thời hạn chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 07/6/2018.

Ngoài ra Bản án còn tuyên quyết định về án phí, xử lý vật chứng, trách

nhiệm dân sự và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn luật định,

Ngày 04-7-2019, bị cáo Nguyễn Thị Thanh N kháng cáo xin giảm nhẹ

hình phạt.

Ngày 04/7/2019 bị hại Nguyễn Thị T, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thị Bảo H

kháng cáo cùng nội dung yêu cầu làm rõ hành vi làm giả thẻ Chứng minh CAND

để lừa đảo nhiều người; yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo; yêu cầu kê biên

thu hồi tài sản để trả lại cho bị hại; thu thập chứng cứ về hành vi lừa đảo của bị

cáo tại Tòa án nhân dân huyện T. Ngoài ra ông V, bà T cho rằng không được

Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm nghiêm

trọng tố tụng nên yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.

Ngày 16/7/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

có Quyết định kháng nghị số 27/QĐ-VC2 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số 36/2019/HSST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định để điều tra xét xử lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình điều tra và tại phiên tòa cáo Nguyễn Thị Thanh N khai nhận

toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2016 đến tháng 7/2017, Nguyễn Thị Thanh N đã lợi dụng là cán bộ Công an huyện T, tỉnh Bình Định dùng Hộ khẩu gia đình, Chứng minh CAND của chồng là Trần Hữu C, mượn giấy Chứng minh CAND, thẻ Đảng viên của cán bộ Công an huyện Tuy phước để thế chấp vay tiền, làm giả giấy Chứng minh CAND của N và cán bộ Công an huyện T để thế chấp vay tiền rồi chiếm đoạt tài sản của Huỳnh Thị Bảo H, Huỳnh Thanh V, Võ Thị Mỹ N, Nguyễn Thị T với tổng số tiền 3.545.640.000 đồng.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người, với tổng số tiền

3.545.640.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015. Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/HSST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định kết tội Nguyễn Thị Thanh N là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 27/QĐ-VC2 ngày 16/7/2019

của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nang đề nghị hủy án sơ thẩm, thấy:

Thứ nhất, bị cáo Nguyễn Thị Thanh N nguyên là cán bộ Công an huyện T,

tỉnh Bình Định nhưng nhiều lần lợi dụng danh nghĩa là cán bộ Công an để vay tiền cũng như thực hiện những hành vi sai phạm khác. Bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã không áp dụng tình tiết này trong quá trình xét xử bị cáo là thiếu sót.

Thứ hai, Tòa án cấp sơ thấm nhận định “Sau khi phạm tội gia đình bị cáo

tự nguyện khắc phục một phần hậu quả” nên đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Bản án sơ thấm không thể hiện được bị cáo và gia đình đã khắc phục những hậu quả gì, bồi thường cho các bị hại bao nhiêu tiền nên việc áp dụng tình tiết này khi tuyên án là không chính xác. Đối với số tiền mà bị cáo trả nợ cho bị hại trước khi cơ quan điều tra khởi tố không được xem là khắc pục hậu quả vì Cơ quan điều tra đã trừ và chỉ xác định bị cáo phạm tội với số tiền 3.545.640.000 đồng.

Thứ ba, bị cáo N chiếm đoạt của nhiều bị hại với số tiền hơn 3,5 tỷ đồng,

hành vi của bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không những ảnh hưởng đến uy tín của ngành Công an mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh

trật tự của địa phương, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử mức án 09 năm tù đối với

bị cáo là quá nhẹ, không tương xứng với những sai phạm bị cáo đã gây ra cũng

như không đủ tính răn đe, phòng ngừa chung.

Đồng thời, việc bị cáo Nguyễn Thị Thanh N mượn giấy Chứng minh Công

an nhân dân của những cán bộ Công an huyện T, tỉnh Bình Định là những đồng

nghiệp với bị cáo, sau đó bị cáo mang đi scan màu, ép plastic làm giả và sử dụng

để lừa dối người bị hại; hành vi của bị cáo N có dấu hiệu của tội “Làm giả con

dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” tại Điều 267 Bộ luật Hình sự 1999. Vì vậy,

việc cấp sơ thẩm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối bị cáo N về tội này là

bỏ lọt tội phạm.

. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề

nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân

dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy án sơ thẩm để điều tra lại; đề nghị này phù hợp với

nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

. Do hủy án sơ thẩm để điều tra lại nên Hội đồng xét xử phúc thẩm

chưa xem xét đến kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng trong

vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 27/QĐ-VC2 ngày

16/7/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; hủy

bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/HSST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân

tỉnh Bình Định.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định để điều

tra lại theo quy đúng quy định pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ