- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 358/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 5 - 2025 V/v: “Tranh chấp về ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Dương Văn Hôm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Bửu Khánh
2. Ông Huỳnh Hoàng Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Nhan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 530/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị O, sinh năm: 1985; địa chỉ: ấp Chín Ghì, xã Ngọc Hòa, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1982; địa chỉ: ấp Chín Ghì, xã Ngọc Hòa, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị O trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn D do mai mối mới quen biết nhau và được cha mẹ sắp xếp tổ chức lễ cưới vào năm 2015, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ngọc Hòa, huyện Giồng Riềng chứng nhận kết hôn. Chị và anh D chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do anh D ăn chơi, cờ bạc gây nợ nần, chị đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh D không thay đổi nên chị và anh D đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Chị và anh D không thể hàn gắng tiếp tục chung sống nên chị yêu cầu ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị và anh D có hai con chung là Nguyễn Thị Hồng Đào, sinh năm 2004 và Nguyễn Thị Ánh Xuân, sinh năm 2006, đã trưởng thành chị không yêu cầu, cháu Đào đã lập gia đình và có cuộc sống riêng.
Về tài sản và nợ chung: Chị O không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn D không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến của anh đối với các yêu cầu khởi kiện của chị O và không có đơn yêu cầu phản tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về trình tự thủ tục tố tụng: Chị Huỳnh Thị O khởi kiện anh Nguyễn Văn D yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và anh D với tư cách là bị đơn trong vụ kiện, có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Chị O với tư cách là nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Anh D với tư cách là bị đơn trong vụ kiện. Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về việc kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét và quyết định hoãn phiên Tòa trực tiếp cho anh D và thông qua bà Cao Thị Cảnh (mẹ anh D) nhưng anh D vắng mặt qua các lần mời của Tòa. Mặc dù, anh biết rõ thông tin của vụ việc và các yêu cầu khởi kiện của chị O. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng đã tiến hành đưa vụ kiện ra xét xử vắng mặt chị O, anh D là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị O và anh D quen biết do mai mối và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ngọc Hòa, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị được xem là hợp pháp. Theo sự xác định của chị O, nguyê nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là do anh D ăn chơi cờ bạc gây ra nợ nần, chị đã khuyên nhiều lần nhưng không thay đổi, đời sống chung vợ chồng không còn tồn tại từ năm 2022 cho đến nay. Riêng anh D không có ý kiến và cũng không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị O, mặc dù anh D đã biết rõ thông tin của vụ việc. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Nhưng anh D không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến, không tham gia tố tụng tại Tòa án. Điều đó chứng tỏ vợ chồng anh chị đã không quan tâm chăm sóc, ly thân nhau trong thời gian dài, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị O yêu cầu được ly hôn với anh D là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị O được ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị O xác định chị và anh D có hai con chung là Nguyễn Thị Hồng Đào, sinh năm 2004 và Nguyễn Thị Ánh Xuân, sinh năm 2006. Hiện cháu Đào và cháu Xuân đều đã trưởng thành nên không xem xét
Về tài sản và nợ chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh D cũng không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp các bên có quyền khởi kiện thành một vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; Án phí ly hôn sơ thẩm chị O phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị O đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008770 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng (do Âu Minh Khang nộp thay). Chị O đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nên không phải nộp thêm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 - điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 - 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị O được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
2. Về tài sản và nợ chung: Không xem xét do không yêu cầu.
3. Về án phí: Buộc chị Huỳnh Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị O đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008770 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng (do Âu Minh Khang nộp thay). Chị O đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nên không phải nộp thêm..
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Cơ quan THA huyện; - Các đương sự; - UBND xã Ngọc Hòa; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Văn Hôm |