- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trần Văn H, phạm tôi "mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật…"
- Tòa quyết gì? 1, Không chấp nhận kháng cáo của Trần Văn H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 16/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện T về hình phạt của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/HSPT Ngày: 02/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Thẩm phán:
Ông Dương Xuân Tuấn
Bà Lê Thị Hiền
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Long – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đức – Kiểm sát viên
Ngày 02/3/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý 240/2017/HSPT ngày 28/12/2017 đối với bị cáo: Trần Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 16/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo kháng cáo:
Trần Văn H- Sinh năm 1982; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu 3
- thị trấn Lam Sơn - huyện T - tỉnh Thanh Hoá;nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; con ông: Trần Văn Y và bà Đỗ Thị T; Vợ: Bùi Thị H1; Con: có một con; Tiền sự: Không; Tiền án : Ngày 05/3/2014 Trần Văn H bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Thanh Hóa xử phát 06 (Sáu) tháng tù về tội " Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đến ngày 17/6/2016 H đã chấp hành xong toàn bộ phần hình phạt và án phí. Nhân Thân: Ngày 24/12/2008 Trần Văn H bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 ( Sáu) tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản". Bị cáo tại ngoại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Duy T1 và Tạ Bá X đều ở xã X Lai - Thọ X- Thanh Hóa là hai đối tượng nghiện ma túy. Vào chiều ngày 05/6/2017 T1 và X gặp nhau tại xã X Lai, mỗi người góp được 100.000đ ( Một trăm nghìn đồng) rồi cùng rủ nhau đi lên nhà Trần Văn H ở khu 3, thị trấn Lam Sơn, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến cổng nhà Trần Văn H (Lúc này khoảng 16 giờ cùng ngày) T1 đứng ngoại cổng gọi H. Nghe tiếng có người gọi H từ trong nhà đi ra thì T1 nói với H "Còn ma túy không để cho 200.000đ", H trả lời là còn, thì T1 lấy trong người ra 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) đưa cho H, H nhận tiền bỏ vào túi quần rồi H đi thẳng vào trong nhà, một lúc sau H mang ra hai gói nhỏ ma túy đưa cho T1. T1 và X mua được ma túy đạng định đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an huyên Thọ X bắt giữ . Trần Văn H sau khi bán được ma túy cho T1 và X đang đi vào trong nhà thì cũng bị bắt . Kiểm tra trên người Hoàng Duy T1 lực lượng Công an phát hiện và thu giữ 02( Hai) gói nhỏ bằng giấy ô ly màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn, T1 và X khai nhận hai gói nhỏ đó là Hê rô in vừa mua của H với giá 200.000đ. Kiểm tra và thu giữ trên người H 200.000đ và 13 ( Mười ba) gói nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn. H khai nhận số tiền 200.000đ là tiền H vừa bán hai gói ma túy cho T1 và X còn 13 ( Mười ba) gói nhỏ trên là Hê rô in H cất giữ trong người để sử dụng dần. Lực lược Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang niêm phong 02 gói nhỏ màu trắng thu trên người Hoàng Duy T1 trong một phong bì thư dán kín có ký hiệu là M; Niêm phong 13( Mười ba) gói nhỏ thu trong người Trần Văn H trong một phong bì thư dán kín có ký hiệu M1.Tiến khám xét khẩn cấp nơi ở của H nhưng không phát hiện, thu giữ, đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định đối với 15 (Mười lăm ) gói nhỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn thu trên người Hoàng Duy T1 và Trần Văn H. Tại bản kết luận giám định số: 1358/ PC54- MT ngày 08/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 02( Hai) gói nhỏ bên trong có chứa chất bột trắng ngà, dạng cục vụn mà H bán cho T1 và X được dán kín niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M gửi giám định có trọng lượng là 0,059g ( Không phẩy không năm chín gam); 13 (Mười ba) gói nhỏ bên trong có chứa chất bột trắng ngà, dạng cục vụn thu giữ trên người Trần Văn H dán kín niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có trọng lượng là 0,286g (Không phẩy hai tám sáu gam) qua giám định tất cả 15 (Mười lăm) gói nhỏ trên đều có Hê rô in.
Trong vụ án này Trần Văn H khai nhận, mình là đối tượng nghiện ma túy, nguồn gốc số ma tuý H bán cho T1 và X và số ma túy thu trên người H là do H mua của Nguyễn Văn L ở xã Thọ X1 vào ngày 04/6/2017 với giá 500.000đ ( Năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên quá trình đấu tranh Nguyễn Văn L không thừa nhận việc bán ma túy cho H nên không xử lý L được. Hoàng Dung T1 và Ta Bá X là hai đối tượng nghiện ma túy và đã có hành vi mua 0,059g chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn có Hê rô in của H nhằm mục đích sử dụng, chưa đủ định lượng để xử lý về hình sự nên cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đối với T1 và X là chính xác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 16/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện T, Thanh Hóa đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điểm g Khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 36 (ba sáu) tháng tù về tội tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 04/12/2017 bị cáo Trần Văn H kháng cáo đè nghị tòa án tỉnh Thanh Hóa giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo không có mặt, xét thấy tòa án đã gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử và 02 lần gửi giấy triệu cho bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 351 BLTTHS quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào chiều ngày 05/6/2017 tại nhà Trần Văn H ở khu 3, thị trấn Lam Sơn, huyện T. H có hành vi bán trái phép ma túy cho T1 và X thì bị Công an huyện T bắt giữthu 02 gói giấy nhỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn là Hêrôin T1 và X vừa mua của H với giá 200.000đ. Ngoài ra Cơ quan Công an còn kiểm tra và thu giữ trên người H 13 ( Mười ba) gói nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn. Qua giám định 15 gói nhỏ trên có Hêrôin trọng lượng là 0,345g.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện chất ma túy, gây mất trật tự trị an. Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, nhân thân có 1 tiền án chưa được xóa án tích lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điểm g Khoản 1 Điều 48 BLHS. Với nhân thân, tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm ma túy, việc xử lý nghiêm là cần thiết. Mức án cấp sơ thẩm xử bị cáo là phù hợp pháp luật, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thống nhất với quan điểm của đại diện VKS giữ nguyên án sơ thẩm.
Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tòa không xem xét. Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo H phải chịu án phí HSPT.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 351 BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS.
1, Không chấp nhận kháng cáo của Trần Văn H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 16/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện T về hình phạt của bị cáo.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điểm g Khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 36 (ba sáu) tháng tù về tội tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2, Án phí: Bị cáo H phải nộp 200.000đ án phí HSPT.
3, Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh -VKSND huyện T -TAND huyện T -Công an huyện T -Thi hành án huyện T -Bị cáo -Lưu hồ sơ vụ án -Lưu VP Toà Hình sự. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Thị Dung |