- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Kim T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 358/2017/HSST Ngày: 22-11-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Minh.
Bà Trịnh Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 362/2017/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 362/2017/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Kim T, sinh 1989; nơi cư trú: thôn T, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Y, sinh năm 1956 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1959; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 07-9-2017; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07-9-2017, tổ công tác của đội Xây dựng phong trào phụ trách xã về an ninh trật tự phối hợp với Công an xã M, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đối diện khách sạn Lakeside - đường Đ, khu đô thị H, thành phố N phát hiện Lê Kim T đi xe máy biển kiểm soát 29U9 - 2106 một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, phát hiện Lê Kim T cất giấu trong túi quần trái đang mặc 02 gói nhỏ bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, Lê Kim T khai là 02 gói Heroine. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng, đồng thời thu giữ của Lê Kim T chiếc xe máy biển kiểm soát 29U9 - 2106; đưa Lê Kim T cùng người làm chứng về trụ sở Công an xã M lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 730/GĐKTHS ngày 11-9-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có tổng trọng lượng (khối lượng) là 0,234 (không phẩy hai ba tư) gam.
Tại cơ quan điều tra, Lê Kim T đã khai nguồn gốc 02 gói ma túy trên như sau: Khoảng 11 giờ ngày 07-9-2017, Lê Kim T mượn xe máy biển kiểm soát 29U9 - 2106 của anh Nguyễn Văn A, trú tại tổ 8, đường H, thị xã P, tỉnh Vĩnh Phúc đi một mình từ khu công nghiệp B, huyện V đến khu vực đường P, thành phố N mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng cất giấu vào túi quần mục đích để sử dụng, sau đó bị Công an bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 369/QĐ-KSĐT ngày 02-11-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Lê Kim T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Lê Kim T khai: Ngày 07-9-2017, bị cáo đến khu vực đường P, phường T, thành phố N mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng cất vào trong túi quần bên trái với mục đích để sử dụng, khi bị cáo đi đến khu vực khách sạn Lakeside - đường Đ thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ, niêm phong 02 gói ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Kim T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,234 gam với mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy là chất do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vì mục đích cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
Tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Chiếc xe máy biển kiểm soát 29U9 - 2106 chưa đủ căn cứ xác định chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lê Kim T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 76, Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Kim T 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07-9-2017.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 730/GĐKTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 30-10-2017).
3. Án phí: Bị cáo Lê Kim T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Kim T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |