- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-G"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn anh Phùng Trần G. Chị Chu Thị Ngọc H được ly hôn anh Phùng Trần G.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 356/2024/HNGĐ-ST Ngày 11/9/2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình“ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Sáng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Kế, bà Phùng Thị Chiển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Bà Cấn Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 172/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Chu Thị Ngọc H, sinh năm 1988 (có mặt)
Bị đơn: Anh Phùng Trần G, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn Đồng Bảng, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, Tp, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Chu Thị Ngọc H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phùng Trần G kết hôn năm 2009, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Thái, huyện Ba Vì. Hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Đồng Bảng, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được mười năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Giáp không tu chí làm ăn nên vợ chồng bất đồng quan điểm. Chị và anh Giáp đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết xin ly hôn với anh Phùng Trần G.
- Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Phùng Đức T, sinh ngày 01/4/2010, Phùng Thiện M, sinh ngày 04/10/2011 và Phùng Ngọc Minh C, sinh ngày 04/11/2019. Khi Tòa án giải quyết ly hôn, chị nhận nuôi cháu Phùng Ngọc Minh C và đề nghị giao cháu Phùng Đức T và cháu Phùng Thiện M cho anh Giáp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hà xác nhận là không có.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 09/5/2024/2024, các cháu Phùng Đức T, Phùng Thiện M khai: Các cháu là con của mẹ Chu Thị Ngọc H, bố Phùng Trần G. Nếu chị Hà cương quyết xin ly hôn với anh Giáp, các cháu muốn ở cùng anh Giáp.
Đối với bị đơn là anh Phùng Trần G, Toà án không ghi được ý kiến của anh Giáp về yêu cầu khởi kiện của chị Hà với lý do: Anh Giáp cố tình trốn tránh, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị Hà và anh Giáp để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Tại biên bản xác minh ngày 15/5/2024 đối với trưởng thôn Đồng Bảng, xã Vạn Thắng và biên bản xác minh ngày 27/6/2024, chính quyền xã Vạn Thắng cho biết: Anh Phùng Trần G, chị Chu Thị Ngọc H là công dân của xã Đồng Thái, anh Giáp, chị Hà đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đồng Bảng, xã Đồng Thái. Hai anh chị cưới nhau, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Đồng Thái. Sau khi cưới, anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Giáp chơi bời, không quan tâm đến gia đình, giữa chị Hà và anh Giáp đã sống ly thân nhau. Nay chị Hà xin ly hôn với anh Giáp, chính quyền đề nghị Tòa án xem xét giải quyết dứt điểm vụ việc.
- Về con chung: Vợ chồng chị Hà, anh Giáp có ba con chung là Phùng Đức T, sinh ngày 01/4/2010, Phùng Thiện M, sinh ngày 04/10/2011 và Phùng Ngọc Minh C, sinh ngày 04/11/2019. Cháu Trọng, cháu Minh đang do anh Giáp nuôi, cháu Châu đang do chị Hà nuôi.
- Về tài sản chung, công nợ chung của chị Hà, anh Giáp thì chính quyền địa phương không nắm được. Anh Giáp đang đi làm ăn tại Hà Nội, không có mặt tại địa phương, hàng tuần anh Giáp vẫn về nhà với các con.
* Tại phiên tòa, chị Chu Thị Ngọc H có ý kiến:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Giáp đã hết, chị giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Trần G.
- Về con chung: Chị Hà xin nhận nuôi cháu Phùng Ngọc Minh C và đề nghị Toà án giao cháu Phùng Đức T và cháu Phùng Thiện M cho anh Giáp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hà xác nhận là không có.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Chu Thị Ngọc H được ly hôn với anh Phùng Trần G.
- Về con chung: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Phùng Ngọc Minh C, sinh ngày 04/11/2019 cho chị Hà và giao cháu Phùng Đức T, sinh ngày 01/4/2010, cháu Phùng Thiện M, sinh ngày 04/10/2011 cho anh Phùng Trần G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác thay đổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị Hà, anh Giáp đến khi có quyết định khác thay đổi.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hà khai là không có, anh Giáp vắng mặt không thể hiện quan điểm về nội dung này nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Chị Hà phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền giải quyết: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu giải quyết quan hệ: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn đăng ký hộ khẩu thưởng trú trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Do vậy Toà án nhân dân huyện Ba Vì thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1.2. Về Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn là anh Phùng Trần G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa ngày 26/8/2024, Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2024. Quyết định này đã được tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, anh Giáp tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
21. Về tính hợp pháp của hôn nhân: Chị Chu Thị Ngọc H và anh Phùng Trần G kết hôn tự nguyện, có đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Thái, huyện Ba Vì ngày 09/4/2009. Vì vậy, hôn nhân của anh chị được xác định là hôn nhân hợp pháp.
2.2. Về mâu thuẫn vợ chồng:
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị Hà trình bày và chính quyền địa phương xã Đồng Thái cung cấp thông tin là do anh Giáp không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 02/2024 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hà và anh Giáp đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận cho chị Chu Thị Ngọc H được ly hôn với anh Phùng Trần G là phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
2.3. Về con chung:
Chị Chu Thị Ngọc H, anh Phùng Trần G có ba con chung là cháu Phùng Đức T, sinh ngày 01/4/2010, cháu Phùng Thiện M, sinh ngày 04/10/2011 và cháu Phùng Ngọc Minh C, sinh ngày 04/11/2019. Hiện tại cháu Phùng Ngọc Minh C đang ở với chị Hà, cháu Phùng Đức T và cháu Phùng Thiện M đang ở với anh Giáp. Nguyện vọng của chị Hà xin được nuôi dưỡng cháu Phùng Ngọc Minh C và đề nghị giao cháu Phùng Đức T và cháu Phùng Thiện M cho anh Giáp nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi lời khai ngày 09/5/2024, các cháu Phùng Đức T, Phùng Thiện M thể hiện nguyện vọng muốn được ở với anh Giáp. Xét nguyên vọng của chị Hà, nguyện của các cháu Đức, cháu Minh và để tránh làm xáo trộn cuộc sống hiện tại, đảm bảo được quyền lợi của cháu Đức, cháu Minh, HĐXX thấy rằng cần tiếp tục giao cháu Phùng Ngọc Minh C cho chị Hà và giao các cháu Phùng Đức T, Phùng Thiện M cho anh Giáp trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi ly hôn, chị Hà, anh Giáp có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
2.4. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Hà không có yêu cầu cấp dưỡng, anh Giáp vắng mặt không thể hiện quan điểm về nội dung này nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Hà, anh Giáp đến khi có quyết định khác thay đổi.
2.5. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Chu Thị Ngọc H khai là không có, anh Giáp vắng mặt không thể hiện quan điểm nên Hội đồng xét xử chưa xem xét. Khi nào anh Giáp có yêu cầu giải quyết về nội dung này thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí: Chị Chu Thị Ngọc H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Các điều 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn anh Phùng Trần G. Chị Chu Thị Ngọc H được ly hôn anh Phùng Trần G.
2. Về con chung: Giao cháu Phùng Ngọc Minh C, sinh ngày 04/11/2019 cho chị Chu Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Đức Trọng, sinh ngày 01/4/2010 và cháu Phùng Thiện M, sinh ngày 04/10/2011 cho anh Phùng Trần G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hà, anh Giáp được nuôi con chung đến khi các cháu Châu, cháu Trọng và cháu Minh đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác thay đổi. Sau khi ly hôn, chị Hà, anh Giáp có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Chu Thị Ngọc H, anh Phùng Trần G cho đến khi có quyết định khác thay đổi.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Chị Chu Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền này được đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị Hà đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ngày 09/5/2024 theo biên lai số 0014129.
5. Quyền kháng cáo: Chị Chu Thị Ngọc H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phùng Trần G có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội; - Chi cục THADS huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội; - UBND xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Đình Sáng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Sáng |