vanban.org

Bản án 356/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá T, bị cáo Nguyễn Văn H và ại diện hợp pháp của các bị cáo; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11 5 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T 20 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11 5 2018. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 20 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11 5 2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá T, Nguyễn Văn H - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá T, bị cáo Nguyễn Văn H và ại diện hợp pháp của các bị cáo; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11 5 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 356/2023/HS-PT
Ngày: 29-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

ông Võ Ngọc Thông;

Các Thẩm phán:

ông Phạm Ngọc Thái;

bà Trần Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Mai, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Quách Hoà Bình, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 295 2023 TLPT-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023 ối v i các bị cáo Nguyễn Bá T, Nguyễn Văn H về tội “Giết người”. Do c kháng cáo của các bị cáo ối v i Bản án hình sự sơ thẩm 38 2023 HS-ST ngày 11 5 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng .

- Các bị cáo kháng cáo:

1. Nguyễn Bá T, sinh năm 1968 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn E xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Nông; trình ộ học vấn: 4 12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn L (chết) và bà Nguyễn Thị B (còn sống); c vợ Nguyễn Thị C (đã ly hôn) và (có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000); tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giam ngày 11 5 2018. C mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn E xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: không; trình ộ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị S (đều đã chết); tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giam ngày 11 5 2018. C mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá T: Luật sư Lê Hữu P - Đoàn Luật sư thành phố Đ theo yêu cầu của Tòa án. C mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Luật sư Ông Quốc C1 Đoàn Luật sư thành phố Đ theo yêu cầu của Tòa án. C mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Bá T gồm có:

Ông Nguyễn Hữu T2; sinh năm 1993 và chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm: 2000; cùng nơi cư trú: thôn E xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (đều là con ruột của bị cáo T). C mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn H có:

- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm, 1970 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963; Cùng nơi cư trú: Tổ 03 thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (đều là anh, chị em ruột của bị cáo H). C mặt.

- Người bị hại: ông Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1972 (đã chết); Người ại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Văn H2 trong giai oạn iều tra c bà Hoàng Thị L1 (mẹ ruột của Nguyễn Văn H2), sinh năm 1952; trú tại: thôn E xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên hiện nay bà L1 ã chết vào ngày 22/01/2022 (có giấy trích lục khai tử); Người ại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn H2 thay cho bà L1 là chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn E, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (em ruột bị hại H2) và ại diện UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng ông Nguyễn Kông K – Chức vụ: Công chức Tư pháp – Hộ tịch xã Hòa Ninh (Văn bản ủy quyền số 15, Quyển số 01 SCT/CK,CĐ ngày 09/5/2023) và ông Nguyễn Tôn H3 (anh trai con dì ruột chi Mận) cùng tham gia phiên tòa làm người ại diện hợp pháp cho chị Nguyễn Thị M (do chị M bị hạn chế về hành vi dân sự) theo yêu cầu của Tòa án. Tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án ược t m tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 08 tháng 5 năm 2018, Nguyễn Bá T ngồi uống rượu v i Nguyễn Văn H2 tại nhà Nguyễn Văn H (H chỉ ngồi chơi không uống rượu). Trong lúc T và H2 ngồi nhậu thì H c n i nhỏ vào tai T nhờ ánh H2 giúp H (do trước đó H2 thường xuyên đánh H), ánh xong H2 thì H sẽ cho T tiền, T ồng ý. Một lúc sau H vào nhà nấu cơm, T i vào nhà hỏi H “đồ mi để ở đâu” thì H chỉ vào g c nhà nơi ể 01(một) cái búa ng inh bằng kim loại dài 27,5cm n i “đồ để ở đó”, T ến cầm búa i ra chỗ H2 ngồi n i v i H2 ra phía sau nhà khiêng cục sắt, mục ích ể H2 i ra khu vực ồi vắng phía sau nhà ể T ánh H2, nghe T n i vậy H2 i theo ra ồi keo phía sau nhà cùng v i T khoảng 200 mét, lúc này H2 i trư c T i sau, T tay phải cầm búa, vung lên ánh một cái từ trên xuống từ phải qua trái vào vùng thái dương bên phải ầu làm H2 ngã sấp xuống ất, T nhìn thấy H2 bị chảy máu ra ở lỗ tai, nghĩ rằng H2 ã chết nên T i vào nhà n i v i H “Tao đánh chết thằng H2 rồi”, sau T và H em chiếc búa i chôn tại cánh ồng trư c nhà rồi i về lại nhà của H. Tại ây, H ưa cho T số tiền 1.500.000 ồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), nghĩ ây là số tiền H cho mình vì ã ánh H2 giúp H nên T cầm tiền rồi i về. Khoảng 19 giờ 30 ngày 09.5.2018 T qua lại nhà H rủ nhau i tìm xác H2 chôn chứ không bị phát hiện, H cầm èn pin còn T cầm cuốc, cả hai quay lại hiện trường em xác H2 bỏ xuống hố c sẵn gần lấp ất lại và i về. Đến khoảng 19 giờ ngày 11.5.2018 do sợ bị phát hiện, T quay lại nhà H rủ H ào xác H2 lên em i chôn chỗ khác không sẽ bị lộ. T bảo H tháo sợi dây dù m c võng cầm èn Pin, T cầm cuốc ra khu vực chôn H2, T dùng cuốc ào xác H2 lên dùng sợi dây dù m c vào chân H2, T i trư c kéo xác H2, H i sau rọi èn pin, T kéo xác H2 ra khu vực cánh ồng lúa (đã thu hoạch) cách hiện trường khoảng 500 mét (thuộc thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng), T ể xác H2 xuống rãnh mương dùng rơm ậy lên, T vứt cuốc và sợi dây vào bụi cây gần và i về nhà. Đến khoảng 22 giờ ngày 11.5.2018 Nguyễn Bá T và Nguyễn Văn H ã ến Cơ quan Công an ể ầu thú khai báo về hành vi phạm tội nêu trên.

Tại Kết luận giám định số: 68 GĐ-PY ngày 18.5.2018 của Phòng Kỹ thuật Công an thành phố à Nẵng, kết luận: nguyên nhân cái chết của Nguyễn Văn H2 do chấn thương sọ não, thời iểm tử vong tính ến ngày khám nghiệm tử thi H2 là 04 (bốn) ngày.

Ngày 6.6.2018, Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an thành phố Đ ra Quyết ịnh trưng cầu giám ịnh số: 145,146 PC45, giám ịnh tình trạng tâm thần ối v i Nguyễn Bá T và Nguyễn Văn H.

Tại Kết luận giám ịnh pháp y tâm thần số: 372 KL-VPYTW ngày 24.7.2018, của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1 ối v i Nguyễn Văn H, kết luận:

- Về y học: trư c, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần mức ộ nhẹ (F70-ICD.10).

- Về năng lực nhận thức iều khiển hành vi: tại thời iểm gây án và hiện nay ương sự bị hạn chế năng lực nhận thức và iều khiển hành vi.

Tại kết luận giám ịnh pháp y tâm thần số: 427 KL-VPYTW ngày 16.8.2018, của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1 ối v i Nguyễn Bá T kết luận:

- Về y học: trư c, trong, sau khi gây án và hiện nay: ương sự bị bệnh rối loạn nhân cách dạng phân liệt (F60.1-ICD.10).

- Về năng lực nhận thức iều khiển hành vi: tại thời iểm gây án và hiện nay ương sự bị hạn chế năng lực nhận thức và iều khiển hành vi.

Ngày 21.11.2018, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an thành phố Đ ra Quyết ịnh trưng cầu giám ịnh bổ sung số 02, 03 PC45, giám ịnh bổ sung tình trạng tâm thần ối v i Nguyễn Bá T và Nguyễn Văn H.

Tại Kết luận giám ịnh pháp y tâm thần số: 15 KL-VPYTW ngày 11.01.2019, của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1 ối v i Nguyễn Văn H, kết luận:

- Về y học: hiện nay: Đương sự bị rối loạn sự thích ứng v i phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm chậm phát triển tâm thần mức ộ nhẹ (F43.22/F70-ICD.10).

- Về năng lực nhận thức điều khiển hành vi: hiện nay ương sự mất năng lực nhận thức và iều khiển hành vi.

Tại kết luận giám ịnh pháp y tâm thần số: 27 KL-VPYTW ngày 14.01.2019, của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1 ối v i Nguyễn Bá T kết luận:

- Về y học: Trư c, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh rối loạn phân ly Trại giam Rối loạn nhân cách dạng phân liệt cách dạng phân liệt (F44.80/F60.1-ICD.10).

- Về năng lực nhận thức điều khiển hành vi: hiện nay ương sự mất năng lực nhận thức và iều khiển hành vi.

Ngày 30.01.2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng ra Quyết ịnh áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 01,02 QĐ-VKS-P1 ối v i Nguyễn Văn H và Nguyễn Bá T tại Viện Tâm thần trung ương B1.

Ngày 02.3.2022 Viện pháp y tâm thần trung ương B1 thông báo tình trạng tâm thần của ối tượng Nguyễn Bá T và Nguyễn Văn H ã khỏi bệnh không cần thiết áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nữa.

Ngày 15.3.2022 Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an thành phố Đ ra Quyết ịnh trưng cầu giám ịnh số 23,24 QĐ-CSĐT-HS, giám ịnh tình trạng tâm thần ối v i Nguyễn Văn H và Nguyễn Bá T sau thời gian bắt buộc chữa bệnh.

Tại Kết luận giám ịnh pháp y tâm thần số 188 KLBB-VPYTW, ngày 25.4.2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1 ối v i Nguyễn Văn H sau thời gian iều trị bắt buộc, kết luận: bị bệnh: rối loạn sự thích ứng v i phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm chậm phát triển tâm thần mức ộ nhẹ (F43.22/F70 – ICD.10). Hiện tại bệnh ã ổn ịnh không cần thiết phải iều trị bắt buộc nữa.

Tại Kết luận giám ịnh pháp y tâm thần số 185 KLBB-VPYTW, ngày 25.4.2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1 ối v i Nguyễn Bá T sau thời gian iều trị bắt buộc, kết luận: bị bệnh: rối loạn sự thích ứng v i phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm chậm phát triển tâm thần mức ộ nhẹ (F43.22/F70 – ICD.10). Hiện tại bệnh ã ổn ịnh không cần thiết phải iều trị bắt buộc nữa.

Ngày 04.7.2022 Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an thành phố Đ ra Quyết ịnh trưng cầu giám ịnh lại số 02, 03 KLGĐ giám ịnh tình trạng tâm thần ối v i Nguyễn Bá T và Nguyễn Văn H.

Tại Kết luận giám ịnh pháp y tâm thần số: 1530 KLGĐ, ngày 23.8.2022 của Viện pháp y tâm thần khu vực B1 ối v i Nguyễn Bá T kết luận:

Tại thời iểm gây án:

- Về y học: chậm phát triển tâm thần mức ộ nhẹ c rối loạn tác phong áng kể (F70.1) + Rối loạn tâm thần và hành vi khác do rượu (F10.8).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và iều khiển hành vi.

Thời iểm hiện tại:

- Về y học: chậm phát triển tâm thần mức ộ nhẹ c rối loạn tác phong áng kể (F70.1) + Các rối loạn phân ly hỗi hợp (F44.7).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: hạn chế khả năng nhận thức và iều khiển hành vi.

Tại Kết luận giám ịnh pháp y tâm thần số 1528 KLGĐ, ngày 23.8.2022 của B1 khu vực miền T ối v i Nguyễn Văn H kết luận:

Tại thời iểm gây án:

- Về y học: C2 (F71).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: hạn chế khả năng nhận thức và iều khiển hành vi.

Thời iểm hiện tại:

- Về y học: C2 (F71).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: hạn chế khả năng nhận thức và iều khiển hành vi.

* Tang vật tạm giữ gồm: 01(một) cái búa ng inh bằng kim loại dài 27,5 cm; 01(một) cái cuốc; 01(một) oạn dây dù;

- 12.000.000 ồng (mười hai triệu đồng) và một sổ tiết kiệm 40.000.000

ồng (bốn mươi triệu đồng) tại ngân hàng A của Nguyễn Văn H.

Tại Bản cáo trạng số: 30 CT-VKS-P2 ngày 22 02 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng ã truy tố các bị cáo Nguyễn Bá T, Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo iểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại B n án h nh sự sơ th m s

2 2 HS-ST ngày

2 2 c a Tòa án nhân dân thành ph Đà N ngđã quyết định:

I. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Bá T và Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”

II. Về hình phạt:

2.1.Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123, các iểm q, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa ổi, bổ sung 2017)

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Bá T: Tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11 5 2018.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H: Tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11 5 2018.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết ịnh về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy ịnh của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25 5 2023 ại diện hợp pháp bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Bá T c ơn kháng cáo.

Tại phiên toà phúc th m hôm nay:

Bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Bá T và ại diện hợp pháp của hai bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của luật sư Ông Quốc C1, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Trư c trong và sau khi phạm tội bị cáo H ều là người bị bệnh tâm thần như kết luận giám ịnh pháp y ã nêu; bị cáo H chính là người thường xuyên bị người bị hại ánh, bức hiếp; bị cáo là người chỉ nhờ bị cáo T dằn mặt chứ không c ý giết người bị hại; bị cáo không biết chữ nên trình ộ nhận thức hạn chế, thuộc gia ình hộ nghèo; ề nghị Hội ồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của luật sư Lê Hữu P, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá T: bị cáo T c nhiều tình tiết giảm nhẹ, cũng là người bị bệnh tâm thần như bị cáo H; trình ộ văn hoá thấp 4 12; bị cáo T nhận lời ánh giúp cũng chỉ ể dằn mặt, chỉ ánh một cái không may trúng vào vùng ầu, làm cho bị hại chết, không c ý thức giết người; sau khi cả hai bị cáo dấu xác bị hại ã ra ầu thú. Đề nghị Hội ồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo và người ại diện hợp pháp của các bị cáo còn trong thời hạn luật ịnh và úng quy ịnh nên ược chấp nhận. Trong giai oạn xét xử phúc thẩm, Hội ồng xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng ã chấp hành úng quy ịnh của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: tội danh của bị cáo ã rõ; về hình phạt trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, quyết ịnh của Toà án cấp sơ thẩm là c phần nghiêm khắc. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo T và bị cáo H ã chủ ộng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, trư c ây từ giai oạn iều tra và phiên toà xét xử sơ thẩm bị cáo T từ chối khai báo. Đây cũng là tình tiết giảm nhẹ m i quy ịnh tại iểm s Điều 51 của Bộ luật hình sự; ề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo và người ại diện hợp pháp của các bị cáo còn trong thời hạn luật ịnh và úng quy ịnh nên ược chấp nhận. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, vắng mặt ại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt. Tuy nhiên, xét thấy việc xét xử vắng mặt của những người này cũng không làm ảnh hưởng ến quyền và lợi ích hợp pháp của họ và ảnh hưởng ến nội dung giải quyết vụ án. Do , Hội ồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy ịnh pháp luật.

Về nội dung: Mặt dù, trong quá trình iều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo T giữ quyền im lặng không khai báo, bị cáo H tuy thừa nhận hành vi nhưng ề nghị Hội ồng xét xử xem xét vai trò, tính chất cũng như hành vi của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo T ã chủ ộng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do , Hội ồng xét xử c ủ căn cứ kết luận: khoảng 19 giờ ngày 08 5 2018, tại thôn E, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Bá T ã c hành vi dùng 01 (một) búa bằng kim loại dài 27,5cm ánh vào vùng ầu của anh Nguyễn Văn H2 gây chấn thương sọ não dẫn ến tử vong. Nguyễn Văn H là người nhờ T ánh H2, ồng thời là người trực tiếp chỉ búa cho T lấy dùng làm hung khí ánh bị hại H2. Sau khi T ánh anh H2 chết, H ưa cho T số tiền 1.500.000 ồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) như ã hứa và tham gia cùng giúp T mang xác anh H2 i chôn cất giấu ể phi tang nhằm trốn tránh việc bị phát hiện. V i hành vi trên của các bị cáo ủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy ịnh tại Điều 123 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức ộ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: ây là vụ án c tính chất ặt biệt nghiêm trọng; mặc dù các bị cáo vẫn nhận thức ược xâm phạm ến tính mạng, sức khoẻ của người khác thì ược pháp luật bảo vệ và nghiêm trị nhưng v i bản tính côn ồ coi thường pháp luật mà các bị cáo ã tư c oạt mạng sống của anh H2 một cách dã man; trong khi, giữa các bị cáo và người bị hại không c mâu thuẫn gì l n, các bị cáo ã c hành vi dùng búa bằng kim loại ánh vào vùng ầu anh H2 gây chấn thương sọ não, hậu quả anh H2 chết tại chỗ. Sau các bị cáo mang xác i chôn cất giấu nhằm phi tang. Vì vậy, các bị cáo Nguyễn Bá T, Nguyễn Văn H bị truy tố và xét xử về tội “Giết người” v i tình tiết ịnh khung “có tính chất côn đồ” quy ịnh iểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là c căn cứ, úng người, úng tội, úng pháp luật, không oan.

Xét về năng lực chịu trách nhiệm hình sự: theo các bản kết luận giám ịnh pháp y tâm thần ối v i các bị cáo do Viện pháp y tâm thần B1, Đồng Nai và Trung tâm G c ủ căn cứ xác ịnh: trư c, trong, sau thời iểm gây án các bị cáo chỉ bị hạn chế năng lực nhận thức và iều khiển hành vi, không mất hoàn toàn khả năng nhận thức và iều khiển hành vi, nên các bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra.

Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo và ại diện hợp pháp của các bị cáo, thấy rằng: Toà án cấp sơ thẩm khi quyết ịnh hình phạt ối v i các bị cáo ã xem xét, ánh giá vai trò của mỗi bị cáo và áp dụng ầy ủ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như: Đây là vụ án c ồng phạm nhưng không mang tính tổ chức mà do tự phát. Đối v i bị cáo T v i vai trò là người thực hiện; bị cáo H là ồng phạm khởi xư ng, giúp sức tích cực cho bị cáo T trong việc gây ra cái chết cho anh H2; sau khi T ánh anh H2 chết, bị cáo ưa cho bị cáo T số tiền 1.500.000 (Một triệu, năm trăm ngàn đồng) như ã ã hứa và cùng v i bị cáo T hai lần mang xác anh H2 i chôn cất giấu nhằm phi tang trốn tránh việc bị phát hiện.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi gây ra cái chết cho anh H2, tuy chưa bị phát hiện nhưng sau các bị cáo ã ra tự thú khai nhận hành vi phạm tội; khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và iều khiển hành vi, hoàn cảnh gia ình của các bị cáo ều c những kh khăn nhất ịnh, ây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình quy ịnh tại các iểm q, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự ã xử phạt cả hai bị cáo ều v i mức án tù chung thân là c phần nghiêm khắc.

Xét thấy, tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo T và bị cáo H ã chủ ộng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, trư c ây từ giai oạn iều tra và phiên toà xét xử sơ thẩm bị cáo T từ chối khai báo. Đây cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự m i quy ịnh tại iểm s Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng thêm cho các bị cáo; ồng thời, xét về nhân thân các bị cáo thấy rằng cả hai bị cáo ều c nhân thân tốt, chưa c tiền án, tiền sự; bị cáo T trình ộ văn hoá 4 12, bị cáo H không biết chữ nên phần nào hạn chế nhận thức và hiểu biết về pháp luật; ặc biệt cả hai bị cáo qua 08 lần giám ịnh pháp y tâm thần trư c và sau khi phạm tội ều mắc bệnh tâm thần dạng nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và iều khiển hành vi; trong quá trình tạm giam cả hai bị cáo phải ưa i iều trị tâm thần bắt buộc vì qua kết quả giám ịnh ều bị mất năng lực nhận thức và iều khiển hành vi. Do , Hội ồng xét xử xét thấy cần cân nhắc, xem xét giảm nhẹ thêm cho hai bị cáo một phần hình phạt ể các bị cáo và ại diện hợp pháp của các bị cáo thấy ược sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt, s m ược tái hoà nhập v i cộng ồng xã hội, trở thành người công dân c ích cho gia ình và xã hội.

Từ những phân tích trên, Hội ồng xét xử xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp v i nhận ịnh của Hội ồng xét xử nên chấp nhận kháng cáo các bị cáo và ại diện hợp pháp của các bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm.

Các quyết ịnh khác của bản án hình sự sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị, không bị kháng cáo, kháng nghị ã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội ồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Do kháng cáo ược chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ iểm b khoản 1 Điều 335; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá T, bị cáo Nguyễn Văn H và ại diện hợp pháp của các bị cáo; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11 5 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Căn cứ Điểm n khoản 1 Điều 123, các iểm q, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T 20 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11 5 2018.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 20 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11 5 2018.

3. Các quyết ịnh khác của bản án hình sự sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị, không bị kháng cáo, kháng nghị ã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị; việc thi hành án ược thực hiện theo Bản án hình sơ thẩm nêu trên.

4. Về án phí: Căn cứ iểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ịnh về án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Bá T và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 ồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm; không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. .

Cỡ chữ