vanban.org

Bản án 356/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ 30 ngày đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-10-2022 đến ngày 11-11-2022 (Quy đổi một ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, tính ra thành 30 x 3 = 90 ngày, tương đương 03 tháng cải tạo không giam giữ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP V
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 356/2022/HS-ST
Ngày: 23-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tám.

2. Bà Ngô Thị Thúy Hảo.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Vững – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 321/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 386/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2022/HSST-QĐ ngày 14-12-2022, đối với bị cáo:

Huỳnh Thanh H (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1993 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 40/15 B, Phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha Huỳnh Văn B, sinh năm: 1964 và mẹ Trần Thị L, sinh năm: 1964; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có bốn anh em; Chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 21-9-2018 bị Công an Phường N xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo QĐ xử phạt vi phạm hành chính số 793/QĐ-XPHC ngày 21-9-2018 với hình thức phạt tiền 750.000đ.

Bị bắt ngày 11-10-2022 đến ngày 11-11-2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh theo Quyết định số 73/QĐ-VKSVT ngày 11-11-2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. (Có mặt)

* Bị hại: Anh Võ Hồng P, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Địa chỉ: 179/9 T, Phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Võ Thanh Q, sinh năm 1995. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 487 T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2. Anh Nguyễn Song T, sinh năm 1983. (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: 210 N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: 33A L, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền trả nợ, Huỳnh Thanh H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại cửa hàng Internet. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07 tháng 10 năm 2022, H rủ đối tượng Võ Thanh Q cùng thực hiện hành vi, Q đồng ý. H dùng xe mô tô biển số 72L4-8442 đi đón Q ở trước Bến xe Vũng Tàu, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Thắng Tam, thành phố Vũng Tàu rồi cả hai đến cửa hàng Internet MANGA ở số 179/9 T, Phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tại đây, H và Q thống nhất với nhau: Trong khi Q ra quầy thanh toán giả bộ tạo tài khoản để nhằm đánh lạc hướng chủ quán, trông chừng để H dùng tuốc nơ vít chuẩn bị từ trước nhằm lấy trộm card màn hình được gắn trong thùng máy vi tính (CPU) trong cửa hàng. H đã chiếm đoạt được 02 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan, còn Q trong lúc trông chừng cho H, thấy xung quanh tiệm có nhiều camera nên Q lo sợ bị phát hiện, đứng từ xa ra hiệu cho H nhưng H không hiểu và không làm theo, Q không lại gần nói chuyện với H mà bỏ về trước. Còn H sau khi chiếm đoạt 02 card màn hình thì đến khoảng 03 giờ cùng ngày ra về.

Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, H mang 01 card màn hình máy tính vừa chiếm đoạt được đến tiệm máy tính BL (địa chỉ 33A L, Phường B, TP Vũng Tàu) bán cho chủ tiệm là Nguyễn Thế V với giá là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Sau đó, H tiếp tục mang card màn hình vi tính còn lại đến tiệm máy tính TP (địa chỉ 210 N, phường T, TP Vũng Tàu) và bán lại cho chủ tiệm là Nguyễn Song T với giá 1.700.000 đồng.

Khoảng 08 giờ cùng ngày, anh Võ Hồng P chủ cửa hàng Internet MANGA phát hiện bị mất 02 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan đã đến Công an Phường 5, thành phố Vũng Tàu trình báo sự việc.

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Thanh H và Võ Thanh Q thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên. H khai nhận sau khi có được số tiền 3.200.000 đồng từ việc bán 02 card màn hình, do Q tự ý bỏ về giữa chừng nên H đã không chia lại số tiền nêu trên cho Q. Đến ngày 11-10-2022, khi H làm việc với Cơ quan Công an, H đã giao nộp lại số tiền này. Lời khai của bị can H phù hợp với lời khai của Võ Thanh Q, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ khác.

Tại Kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐG-TTHS ngày 24-10-2022, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Vũng Tàu kết luận: 02 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan có giá trị 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

* Việc thu giữ và xử lý tài liệu, đồ vật, tài sản, vật chứng:

+ 01 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan, thu giữ của Nguyễn Thế V.

+ 01 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan, thu giữ của Nguyễn Song T.

+ 01 cây tuốc nơ vít có độ dài 24 cm, phần cán bằng nhựa màu xanh trong suốt dài 6,5 cm, phần trục làm bằng kim loại màu trắng hình lục giác dài 14,5 cm, giữa phần trục và cán được nối bằng nhựa màu đỏ dài 2,5 cm thu giữ của Huỳnh Thanh H.

+ 01 xe mô tô hiệu NEWVMC biển số 72L4-8442 màu đỏ đen, số máy: 60107411, số khung: 61003411 tạm giữ của Huỳnh Thanh H.

+ 06 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng.

*Xử lý vật chứng:

+ Đối với 02 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an TP Vũng Tàu đã ra QĐ xử lý vật chứng số: 67/QĐ-Đ1 ngày 09-11-2022 trả lại cho bị hại là anh Võ Hồng P.

+ Đối với xe mô tô hiệu NEWVMC biển số: 72L4-8442 màu đỏ đen, số máy: 60107411, số khung: 61003411. Qua xác minh, xác định là tài sản của ông Huỳnh Văn B (sinh năm: 1964; Nơi thường trú: 40/15 B, Phường N, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là bố của H. Ông B không biết H sử dụng xe của mình làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe này cho ông B.

Vật chứng, tài sản còn lại đã chuyển cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý chờ xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Võ Hồng P đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng) do bị cáo H và gia đình bồi thường, không có yêu cầu gì khác. Anh P có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Đối với anh Nguyễn Thế V đề nghị được nhận lại số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) anh V trả cho H khi mua 01 card màn hình. Và anh Nguyễn Song T đề nghị được nhận lại số tiền 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) anh T trả cho H khi mua 01 card màn hình.

Bản cáo trạng số 336/CT-VKS ngày 21-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Huỳnh Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo H, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ và được trừ vào thời gian tạm giam từ ngày 11-10-2022 đến ngày 11-11-2022, cứ 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, đề nghị miễn trừ thu nhập đối với bị cáo H; Trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh P nên anh P không yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Đề nghị trả lại cho anh V số tiền là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) và trả lại cho anh T 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm ngàn đồng); Xử lý tài sản, đồ vật, vật chứng: đề nghị trả lại 06 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng, cụ thể trả cho anh V là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) gồm 03 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng và anh T là 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) gồm 03 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy 01 cây tuốc nơ vít có độ dài 24 cm, phần cán bằng nhựa màu xanh trong suốt dài 6,5cm, phần trục làm bằng kim loại màu trắng hình lục giác dài 14,5cm, giữa phần trục và cán được nối bằng nhựa màu đỏ dài 2,5cm là công cụ bị cáo H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại anh P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh V, anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có tự khai, lời khai và anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P, anh V, anh T theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo được xác định như sau:

Căn cứ lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07-10-2022, lợi dụng sơ hở của bị hại anh P, H dùng tuốc nơ vít chuẩn bị từ trước nhằm lấy trộm card màn hình được gắn trong thùng máy vi tính (CPU) trong cửa hàng. H đã chiếm đoạt được 02 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, H mang 01 card màn hình máy tính vừa chiếm đoạt được đến tiệm máy tính Bảo Linh bán cho chủ tiệm là anh V với giá là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) và H tiếp tục mang card màn hình vi tính còn lại đến tiệm máy tính TP bán lại cho chủ tiệm là Nguyễn Song T với giá 1.700.000 đ (Một triệu bảy trăm ngàn đồng). Căn cứ kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐG-TTHS ngày 24-10-2022, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Vũng Tàu kết luận: 02 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan có giá trị 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Xét, hành vi nêu trên của H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố là có căn cứ, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo H gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bức xúc cho nhân dân trong cộng đồng dân cư. Do đó, cần tuyên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh P; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Xét, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên, có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự phạt cải tạo không giam giữ cũng thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm răn đe giáo dục đối với bị cáo đồng thời để bị cáo nhận thức được sự khoan hồng của pháp luật mà chấp hành cải tạo tốt. Bị cáo không có công việc ổn định, ở chung với cha mẹ nên xem xét miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, tài sản:

Đối với 02 card màn hình máy tính hiệu VGA Gigabyte 1660 Super 6G OC 2 Fan nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an TP Vũng Tàu đã ra QĐ xử lý vật chứng số: 67/QĐ-Đ1 ngày 09-11-2022 trả lại cho bị hại là anh Võ Hồng P. Và xe mô tô hiệu NEWVMC biển số: 72L4-8442 màu đỏ đen, số máy: 60107411, số khung: 61003411, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe này cho ông B nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 06 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng là tiền H bán 02 card màn hình máy tính cho anh V, anh T nên trả lại cho anh V là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) gồm 03 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng và anh Song 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) gồm 03 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây tuốc nơ vít có độ dài 24 cm, phần cán bằng nhựa màu xanh trong suốt dài 6,5cm, phần trục làm bằng kim loại màu trắng hình lục giác dài 14,5cm, giữa phần trục và cán được nối bằng nhựa màu đỏ dài 2,5cm là công cụ bị cáo H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh P đã nhận được tiền bồi thường là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với Võ Thanh Q, tuy có bàn bạc, giúp sức cho Huỳnh Thanh H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nH Q đã tự bỏ về trước, không tiếp tục hành vi giúp sức cho H khi H đang thực hiện hành vi phạm tội, tuy không có gì ngăn cản và không được hưởng lợi từ hành vi phạm tội của H, thuộc trường hợp “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” quy định tại Điều 16 Bộ luật hình sự nên Q được miễn trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” với vai trò đồng phạm với H.

Đối với các anh V và anh T: Khi mua điện thoại của H không biết đó là tài sản do H trộm cắp mà có và không liên quan đến hành vi phạm tội của H nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ 30 ngày đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-10-2022 đến ngày 11-11-2022 (Quy đổi một ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, tính ra thành 30 x 3 = 90 ngày, tương đương 03 tháng cải tạo không giam giữ đã chấp hành). Thời hạn Cải tạo không giam giữ còn lại phải chấp hành là 06 tháng, tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo H.

Giao bị cáo Huỳnh Thanh H cho Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát, giáo giục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho anh V là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) gồm 03 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng và trả cho anh T là 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) gồm 03 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây tuốc nơ vít có độ dài 24 cm, phần cán bằng nhựa màu xanh trong suốt dài 6,5cm, phần trục làm bằng kim loại màu trắng hình lục giác dài 14,5cm, giữa phần trục và cán được nối bằng nhựa màu đỏ dài 2,5cm của bị cáo H.

Vật chứng, tài sản nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 57/BB.CCTHADS ngày 25-11-2022 và Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 22-11-2022.

Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

3. Về án phí: Bị cáo H phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ