- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Nguyễn Tuấn A và đồng phạm - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Tuấn K , giữ nguyên quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HS-ST ngày 22/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo Hà Tuấn K , cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 356/2022/HS-PT Ngày 19/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Kim Nhân
Các Thẩm phán: ông Trương Minh Tuấn, ông Lê Tự
- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 19 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến tại Điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với Điểm cầu tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 301/2022/TLPT-HS ngày 18/7/2022 do các bị cáo kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HS-ST ngày 22/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2070/2022/QĐXXPT-HS ngày 01/8/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với:
Các bị cáo kháng cáo:
1. Đặng Nguyễn Tuấn A (tên gọi khác: T Đạo Sĩ), sinh năm: 1996 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; cha: Đặng Văn T, sinh năm 1974; mẹ: Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50/QĐ-XPHC ngày 18/02/2020 của Công an thành phố C xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/8/2020 đến ngày 08/10/2020 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị bắt tạm giam lại vào ngày 19/8/2022, có mặt tại phiên tòa.
2. Hà Tuấn K (tên gọi khác: Hà K), sinh ngày 19/01/2003 tại tỉnh Khánh Hòa (thời điểm phạm tội 16 tuổi 01 tháng 24 ngày); nơi cư trú: thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; cha: Hà Xuân B, sinh năm 1967; mẹ: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án sơ thẩm số 60/2021/HS-ST ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2021. Bị tạm giam từ ngày 29/10/2019 đến ngày 16/01/2020 thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Bị bắt tạm giam lại từ ngày 06/3/2020 đến ngày 24/5/2020 thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Tấn T, sinh ngày 26/4/2001 tại tỉnh Khánh Hòa (thời điểm phạm tội 17 tuổi 10 tháng 17 ngày); nơi cư trú: thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Không; cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; mẹ: Phan Thị T, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/11/2019 đến ngày 16/01/2020 thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
4. Văn Minh T1 (tên gọi khác: Út T1), sinh ngày 22/5/2003 tại tỉnh Khánh Hòa (thời điểm phạm tội 15 tuổi 9 tháng 18 ngày); nơi cư trú: phường C, TP. C, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; cha: Văn Thanh T, sinh năm 1972; mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tạm giam từ ngày 09/11/2019 đến ngày 20/01/2020 thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa theo Luật định:
Luật sư Phan Thị Ngọc H - Công ty Luật MTV V và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa bào chữa cho bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A có mặt tại phiên tòa.
Luật sư Huỳnh Văn T - Công ty Luật TNHH một thành viên A thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn T, vắng.
Bà Nguyễn Thị Thanh T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Khánh Hòa bào chữa cho các bị cáo Hà Tuấn K và Văn Minh T1 có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn 24 bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo và kháng nghị
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành A T và Nguyễn Kim T2 có mâu thuẫn với nhau và nhóm do T cầm đầu và nhóm do T2 cầm đầu thường xuyên đánh nhau qua lại trên địa bàn thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Khoảng 20h30 ngày 15/3/2019, T cùng với Văn Bá H, Nguyễn Tấn H, Đặng Nguyễn Tuấn A, Trần Thiên P, Nguyễn Thành Đ, Trịnh Quang Quốc T, Nguyễn Tấn T, Võ Thanh T, Nguyễn Tấn T, Văn Đức T, Nguyễn D A, Mạc Quốc Đ, Phạm Văn D, Nguyễn V, Nguyễn Thái N, Văn Minh T1, Nguyễn T K, Hà Tuấn K , Huỳnh Chí H, Lê Thanh B, Lê Trọng T ăn nhậu tại đìa tôm bỏ hoang thuộc TDP P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Đến khoảng 22h00 cùng ngày, Nguyễn T K và T đi mua thêm đồ ăn. Khi đến khu vực cây xăng số 3 thuộc phường C, thành phố C thì gặp Nguyễn Nhân Đ điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Minh C cầm 02 cây rựa, Nguyễn Kim T2 cầm 01 cây rựa và 01 cây đao, Chiêng T Minh điều khiển xe mô tô chở Phan Văn C cầm 02 cây rựa, Võ A V (sinh ngày 20/6/2004) và Huỳnh T L cầm 01 cây đao. Thấy Nguyễn T K và T thì nhóm của T2 cầm hung khí rượt theo đuổi đánh nhưng không được, sau đó, Nguyễn T K và T về chỗ nhậu kể lại cho T và cả nhóm nghe. Nghe xong, T rủ cả nhóm đi tìm đánh lại nhóm T2, tất cả đồng ý. T nói Nguyễn T K, T đến Lăng Ông thuộc TDP P, phường C, thành phố C lấy về 01 bao tải đựng hung khí của nhóm T cất giấu để đi đánh nhau. Nguyễn T K gọi điện thoại rủ thêm Nguyễn Thanh Pháp đi đánh nhau với nhóm T2, Pháp đồng ý tham gia.
Đến khoảng 22h30 cùng ngày, nhóm T gồm tổng cộng 23 người chia nhau kiếm, mã tấu, rựa, xẻng, cơ bida, đòn gánh để đi tìm đánh nhóm T2. Khi đi V điều khiển xe mô tô chở T cầm 01 cây kiếm và P cầm 01 cây rựa; Hà Tuấn K điều khiển xe mô tô chở D cầm 01 cây đòn gánh và H cầm 01 cây mã tấu; B điều khiển xe mô tô chở T1 cầm 01 cây đòn gánh và Đ cầm 01 cây đòn gánh; H điều khiển xe mô tô chở T cầm 01 cây rựa và T cầm 01 cây rựa; T điều khiển xe mô tô chở T A cầm 01 cây xẻng; H điều khiển xe mô tô chở A cầm 01 cây rựa và T cầm 01 cây đòn gánh; N điều khiển xe mô tô chở Nguyễn T K cầm 02 cây cơ bida và Đ cầm 01 cây rựa; T điều khiển xe mô tô của Pháp chở T cầm 02 cây cơ bida và Pháp cầm 01 cây đòn gánh. Đến cấy xăng số 3 thuộc phường C, thành phố C thì cả nhóm dừng xe lại.
Đến khoảng 23h00 cùng ngày, nhóm T2 chạy xe mô tô qua khu vực nhóm T đang phục. Nhóm T dùng gạch, đá, chai bia ném để chặn đánh nhóm T2, nhóm T2 bỏ chạy lên đường L để đi đến khu vực Ngã Sáu TDP P, phường C, thành phố C. Lúc này, T nói cả nhóm: Tụi nó chạy đường núi, chạy lên Ngã Sáu chặn đầu tụi nó, nên nhóm T lên xe mô tô chạy theo tuyến đường Quốc lộ 1A – Tố Hữu đến bùng binh Ngã Sáu tập trung đầu đường L. T nói cả nhóm chia làm 02 nhóm, mỗi nhóm 04 xe mô tô chạy vào đường L về hướng Ủy ban nhân dân thành phố C (đường L có dải phân cách chia 02 làn đường). Trong đó, 1 nhóm (thuận đường) chạy vào làn đường về hướng UBND thành phố C gồm Nguyễn V, Nguyễn Thành A T, Trần Thiên P, Lê Thanh B, Văn Minh T1, Nguyễn Thành Đ, Văn Đức T, Đặng Nguyễn Tuấn A, Huỳnh Chí H, Võ Thanh T, Trịnh Quang Quốc T; nhóm thứ 2 chạy ngược đường gồm Hà Tuấn K , Phạm Văn D, Văn Bá H, Nguyễn Tấn H, Nguyễn Tấn T, Nguyễn D A, Nguyễn Thái N, Nguyễn T K, Mạc Quốc Đ, Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thanh Pháp, Lê Trọng T. Khi đến đoạn đường L trước quán cà phê Bu thuộc TDP P, phường C, thành phố C thì nhóm của Hà Tuấn K chặn đầu được nhóm của T2 đi ngược chiều nên hai nhóm xuống xe dùng hung khí đánh nhau qua lại, Huỳnh T L bị người trong nhóm K chém 01 nhát trúng vùng đầu gây rách da. Lúc này, nhóm của Nguyễn Thành A T cũng đi đến và xuống xe mô tô nhảy qua dải phân cách xông tới đánh nhóm của T2. Do thấy nhóm T đông hơn nên nhóm T2 ném rựa lại rồi bỏ chạy. T nhặt 01 cây rựa, H nhặt 01 cục gạch 04 lỗ ném trúng chân của C, làm C ngã xuống đường. T cầm kiếm, H cầm mã tấu, T A cầm xẻng, A cầm rựa, T cầm rựa, Đ cầm rựa, T cầm rựa, P cầm rựa, T cầm rựa, Đ cầm đòn gánh, D cầm đòn gánh, T1 cầm đòn gánh, Pháp cầm đòn gánh, H cầm gạch 4 lỗ, T cầm cơ bida, Nguyễn T K cầm cơ bida, Hà Tuấn K cầm cơ bida, cùng xông vào đánh, chém nhiều nhát vào vùng đầu, tay, chân của C cho đến khi C nằm bất động thì nhóm T lên xe mô tô bỏ chạy về đìa tôm bỏ hoang cất giấu hung khí rồi bỏ trốn.
Sau khi bị thương Nguyễn Minh C được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa C, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện phục hồi chức năng thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 11/4/2019 C xuất viện.
Bản kết luận giám định pháp y số 145 ngày 22/05/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa xác định thương tích của Nguyễn Minh C: Khuyết xương sọ đường kính 4cm, đáy phập phồng; Gãy xương bàn 5 chân phải; Gãy xương chày trái; 04 sẹo có kích thước lớn; 04 sẹo có kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 50%.
Vật chứng vụ án thu giữ được gồm 01 đoạn thanh gỗ tròn; 02 đoạn thanh gỗ tre bị gãy; 01 xẻng còn phần cán bị gãy; 02 viên gạch; 01 mũ vải lưỡi trai; 04 đôi dép; 03 cây rựa.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HS-ST ngày 22/4/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của ộ luật h nh sự;
Căn cứ Điều 15 và Điều 57 Bộ luật h nh sự đối với bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A;
Căn cứ Điều 15, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Bộ luật h nh sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn T, Văn Minh T1, Hà Tuấn K ;
Xử phạt:
Bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A (T đạo sỹ) 09 năm 03 tháng tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/8/2020 đến ngày 08/10/2020.
Bị cáo Hà Tuấn K (Hà K) 05 năm 03 tháng tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 29/10/2019 đến ngày 16/01/2020 và từ ngày 06/3/2020 đến ngày 24/5/2020.
Bị cáo Nguyễn Tấn T 04 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/11/2019 đến ngày 16/01/2020.
Bị cáo Văn Minh T1 (Út T1) 03 năm tù về tội“Giết người”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/11/2019 đến ngày 20/01/2020.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 04/5/2022, bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A kháng cáo trình bày nhận thức rõ hành vi sai trái của mình nên sau khi xét xử phúc thẩm đã bồi thường thêm cho bị hại, hoàn cảnh bị cáo cha mẹ vỡ nợ bỏ đi làm ăn xa, bị cáo phải tự lao động nuôi sống bản thân, một phần trả nợ cho cha mẹ nên đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 06/5/2022, bị cáo Hà Tuấn K kháng cáo trình bày nhận thức rõ hành vi sai trái của mình nên sau khi xét xử phúc thẩm đã bồi thường thêm cho bị hại nên đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 05/5/2022, bị cáo Nguyễn Tấn T kháng cáo trình bày nhận thức rõ hành vi sai trái của mình nên sau khi xét xử phúc thẩm đã bồi thường thêm cho bị hại, hoàn cảnh gia đình hiện nay cha bị cáo bị bệnh nên bị cáo có trách nhiệm lao động kiếm tiền chữa bệnh cho cha, nên đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 04/5/2022, bị cáo Văn Minh T1 kháng cáo trình bày nhận thức rõ hành vi sai trái của mình nên sau khi xét xử phúc thẩm đã bồi thường thêm cho bị hại, hoàn cảnh gia đình hiện nay cha bị cáo bị bệnh phổi nặng nên bị cáo có trách nhiệm chính trong gia đình lao động kiếm tiền lo cho gia đình, nên đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Tấn T, Văn Minh T1 tự nguyện rút kháng cáo;
- Bị cáo Hà Tuấn K giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm cho bị cáo 1 phần hình phạt vì sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường đủ phần trách nhiệm dân sự cho bị hại (số tiền 4.608.000 đồng).
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.
+ Về nội dung:
Các bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Tấn T, Văn Minh T1 tự nguyện rút kháng cáo nên đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với 3 bị cáo này.
Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Hà Tuấn K , giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy:
Xét tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Tấn T và Văn Minh T1 tự nguyện rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với 3 bị cáo rút kháng cáo và quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HS-ST ngày 22/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa có hiệu lực thi hành đối với 3 bị cáo rút kháng cáo này. Bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A bị bắt ngày 19/8/2022 nên cấp phúc thẩm bổ sung vấn đề thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/8/2022 đối với bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Tuấn K , Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy bị cáo K thừa nhận hành vi phạm tội như nhận định trong bản án sơ thẩm, cụ thể: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15/3/2019 trước quán cà phê Bu đường L, tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, nhóm của Nguyễn Thành A T trong đó có Hà Tuấn K dùng kiếm, mã tấu, rựa, xẻng, cơ bida, đòn gánh, gạch 4 lỗ lao tới đánh nhau với nhóm của Nguyễn Kim T2; do nhóm của T đông người nên nhóm của T2 bỏ chạy. Nguyễn Minh C thuộc nhóm của T2 bỏ chạy thì bị vấp ngã nên nhóm của T dùng kiếm, mã tấu, rựa, xẻng, cơ bida, đòn gánh, gạch 4 lỗ nhào tới đánh C, Hà Tuấn K cầm cơ bida đánh C đến khi C nằm bất động thì nhóm của T mới bỏ trốn; hậu quả C bị thương tích ở đầu do bị đánh, chém; gãy xương bàn 5 chân phải; gãy xương chày trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại 50%.
Xét, nhóm do Nguyễn Thành A T cầm đầu và nhóm do Nguyễn Kim T2 cầm đầu chỉ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống và đều nhận thức được hậu quả của việc nhiều người dùng hung khí nguy hiểm (kiếm, mã tấu, rựa, xẻng, đòn gánh…vv) chém, đánh một người vào nhiều vùng trọng yếu trên cơ thể có thể gây hậu quả chết người, nhưng cùng nhau thực hiện hành vi bất chấp hậu quả và thực tế bị hại C bị thương tích rất nặng, nếu không được cứu chữa kịp thời thì hậu quả chết người có thể đã xảy ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo (trong đó có bị cáo Hà Tuấn K ) đồng phạm về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự “có tính chất côn đồ” là đúng người, đúng tội, đúng khung hình phạt, đúng pháp luật.
Xét, khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; Hà Tuấn K có nhân thân xấu năm 2021 bị xử phạt tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng không lấy đó là bài học kinh nghiệm mà ngay sau khi ra tù đã tham gia băng nhóm do Nguyễn Thành A T cầm đầu và là đồng phạm tích cực trong vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét Hà Tuấn K khi phạm tội dưới 18 tuổi nên áp dụng Điều 91 Bộ luật hình sự về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi và xét Hà Tuấn K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã vận động gia đình khắc phục một phần hậu quả nên chỉ xử phạt Hà Tuấn K 05 năm 03 tháng tù là đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng và có phần chiếu cố; do đó, tại phiên tòa phúc thẩm trực tuyến hôm nay mặc dù bị cáo K trình bày vừa nộp khắc phục hậu quả thêm cho bị hại số tiền 4.608.000 đồng (bị cáo K xuất trình biên lai thu tiền qua camera), nhưng Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Hà Tuấn K như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo K kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Tuấn K , giữ nguyên quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HS-ST ngày 22/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo Hà Tuấn K , cụ thể:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 15, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Tuấn K (Hà K) 05 năm 03 tháng tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 29/10/2019 đến ngày 16/01/2020 và từ ngày 06/3/2020 đến ngày 24/5/2020.
Bị cáo Hà Tuấn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
II- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355, Điều 348 của Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Tấn T và Văn Minh T1, quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HS-ST ngày 22/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với các bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Tấn T và Văn Minh T1 có hiệu lực pháp luật thi hành, cụ thể:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Tấn T và Văn Minh T1. Căn cứ Điều 15 và Điều 57 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A; Căn cứ Điều 15, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn T, Hà Tuấn K ;
Xử phạt:
Bị cáo Đặng Nguyễn Tuấn A (T đạo sỹ) 09 năm 03 tháng tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/8/2022, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/8/2020 đến ngày 08/10/2020.
Bị cáo Nguyễn Tấn T 04 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/11/2019 đến ngày 16/01/2020.
Bị cáo Văn Minh T1 (Út T1) 03 năm tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/11/2019 đến ngày 20/01/2020.
III- Các Quyết định khác tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HS-ST ngày 22/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị (nếu các bị cáo có kháng cáo trong vụ án này mà có bị cáo nào nộp thêm tiền bồi thường thiệt hại sau khi xét xử sơ thẩm thì sẽ được Tòa án khấu trừ khi \ra quyết định thi hành án).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa; - Các bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - L: Hồ sơ vụ án; Phòng HC-TP; lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Kim Nhân |