vanban.org

Bản án 356/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Mai H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Nguyễn Mai H được ly hôn với ông Trần Văn D. Quan hệ hôn nhân của bà Phạm Nguyễn Mai H và ông Trần Văn D theo Giấy chứng nhận kết hôn số 135/2000, quyển số 01/P17 ngày 25/10/2000 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh chấm dứt kể từ ngày bản án của T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Nguyễn Mai H được ly hôn với ông Trần Văn D"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Mai H.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 356/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 5 - 2021
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Sao

2. Bà Trần Quang Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 915/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2020 về: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 216/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Nguyễn Mai H, sinh năm 1976

Địa chỉ: 11/2A đường T, phường q, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1976

Địa chỉ: 11/2A đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Mai H trình bày:

Bà và ông Trần Văn D tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 135/2000, quyển số 01/P17 ngày 25/10/2000 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do lối sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con cái, ông D không có việc làm ổn định, không quan tâm và chăm sóc gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vả, xúc phạm nhau, bà và ông D đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu ly hôn với ông D.

Về con chung: Bà H xác nhận có 02 con chung tên Trần Châu D, sinh ngày 15/9/2002 và Trần Khả D, sinh ngày 31/8/2005, Khi ly hôn bà H yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Trần Khả D, sinh ngày 31/8/2005, bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, riêng con chung tên Trần Châu D, sinh ngày 15/9/2002 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác nhận không có.

- Bị đơn ông Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Mai H có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến trình bày như trên.

- Bị đơn ông Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc sự kiện bất khả kháng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân thủ theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ bản tự khai của bà H cùng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy quan hệ hôn nhân của bà H và ông D là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống hôn nhân giữa bà bà H và ông D không còn hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn là do lối sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con cái, bà và ông D đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H và ông D.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Khả D, sinh ngày 31/8/2005 cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Riêng con chung tên Trần Châu D, sinh ngày 15/9/2002 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 135/2000, quyển số 01/P17 ngày 25/10/2000 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Nguyễn Mai H và ông Trần Văn D là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Ông Trần Văn D cư trú tại quận Tân Phú. Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về thủ tục xét xử vắng mặt:

- Ông Trần Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự, thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 177, 208, 209, 210 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông D vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ngày 15/4/2021, bà Phạm Nguyễn Mai H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Hân theo qui định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

3. Về yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét bà Phạm Nguyễn Mai H yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn D.

Theo lời trình bày của bà H, quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do lối sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con cái, ông D không có việc làm ổn định, không quan tâm và chăm sóc gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vả, xúc phạm nhau, bà và ông D đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập ông D nhiều lần nhưng ông D vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện ông D không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.

Do đó, có cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa bà H và ông D đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về quan hệ con chung: Bà H xác nhận có 02 con chung tên Trần Châu D, sinh ngày 15/9/2002 và Trần Khả D, sinh ngày 31/8/2005, Khi ly hôn bà H yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Trần Khả D, sinh ngày 31/8/2005, bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, riêng con chung tên Trần Châu D, sinh ngày 15/9/2002 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy, con chung hiện nay do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, hơn nữa nguyện vọng của trẻ D là muốn sống với bà H nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao con chung tên Trần Khả D cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Riêng con chung tên Trần Châu D, sinh ngày 15/9/2002 đã trưởng thành và phát triển bình thường, bà H không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng : Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về quan hệ tài sản chung: Bà H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì bà Phạm Nguyễn Mai H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 267, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57; Điều 81; Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

- Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Mai H.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Nguyễn Mai H được ly hôn với ông Trần Văn D. Quan hệ hôn nhân của bà Phạm Nguyễn Mai H và ông Trần Văn D theo Giấy chứng nhận kết hôn số 135/2000, quyển số 01/P17 ngày 25/10/2000 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: Giao con chung tên Trần Khả D, sinh ngày 31/8/2005 cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông D do bà H không yêu cầu. Riêng con chung tên Trần Châu D, sinh ngày 15/9/2002 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Khi lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông D được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000 đồng do bà Phạm Nguyễn Mai H chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà H đã nộp theo Biên lai thu số AA/2019/0071195 ngày 22/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà H đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[3] Quyền kháng cáo: Bà Phạm Nguyễn Mai H, ông Trần Văn D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND TP.HCM;

- VKSND Q. Tân Phú;

- Chi cục THADS Q. Tân Phú;

- Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Tp. HCM

- Lưu VP, hồ sơ (Vi)./.

Lê Viết Hoàng Lâm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND TP.HCM;

- VKSND Q. Tân Phú;

- Chi cục THADS Q. Tân Phú;

- Ủy ban nhân dân Phường 2, Tp. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

- Lưu VP, hồ sơ (Dương)./.

Lê Viết Hoàng Lâm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ