vanban.org

Bản án 356/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/12/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo lê Lưu B phạm tội lừa đào chiểm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:356/2019/HS-PT
Ngày: 27-12-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan - Thƣ ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lƣu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 317/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Lê Lưu B. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Lưu B đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2019/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M.

- B cáo có kháng cáo: Lê Lưu B (T), sinh năm 19XX; HKTT: Số XX, Ấp Phú T, xã Đồng P, huyện Long H, tỉnh Vĩnh L; Nơi cƣ trú: Số XX, đƣờng X tháng X, phƣờng X, thành phố Vĩnh L, tỉnh Vĩnh L; Nghề nghiệp: Thầu xây dựng; Trình độ học vấn: XX/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C, sinh năm 19XX (chết) và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 19XX (chết); vợ tên Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 19XX (đã ly hôn); vợ 2 tên Nguyễn Lệ T, sinh năm 19XX và có 01 con, sinh năm 2017; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 07/3/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 18/6/2006. Chƣa chấp hành nộp tiền án phí 50.000 đồng; Về nhân thân: Ngày 09/7/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/9/2003; Bắt tạm giam ngày 26/12/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong v án còn có hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan kh ng kháng cáo và Viện kiểm sát kh ng kháng ngh

NỘI DUNG V N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Năm 2017, Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M, mở hai gói thầu gồm công trình “Nạo vét tạo nguồn kết hợp bờ bao bờ tây kênh Tân Công Sính và Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Q”; Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M thông báo mời thầu công khai trên phƣơng tiện thông tin đại chúng. Biết đƣợc thông tin mời thầu nên Lê Lưu B là Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại – xây dựng Quốc Thái, có trụ sở chính tại số H69 đƣờng Ðinh Tiên Hoàng, khóm X, phƣờng X, thành phố Vĩnh L, tỉnh Vĩnh L gửi hồ sơ tham gia đấu thầu.

Theo quy định, hồ sơ dự thầu phải có chứng thƣ bảo lãnh của Ngân hàng. Do muốn dự thầu hai công trình nêu trên, Lê Lưu B đã làm giả hai Chứng thƣ bảo lãnh dự thầu của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh - Chi nhánh Vĩnh L và Chứng thƣ bảo lãnh thực hiện hợp đồng để tham gia đấu thầu. Sau khi trúng thầu hai công trình, Lê Lưu B làm giả hai Chứng thƣ bảo lãnh tiền tạm ứng của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vƣợng - Chi nhánh Vĩnh L để tạm ứng tiền từ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M. Cách thức Lê Lưu B làm chứng thƣ giả là tự nhập văn bản trên máy vi tính rồi phô tô con dấu lên văn bản, còn chữ ký Lê Lưu B tự ký nháy.

Cụ thể: Hợp đồng nạo vét tạo nguồn kết hợp bờ bao bờ tây kênh Tân Công Sính (cầu đƣờng thét - cụm dân cƣ) có giá hợp đồng là 2.693.720.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm chín mƣơi ba triệu bảy trăm hai mƣơi nghìn đồng), Lê Lưu B tạm ứng số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng) và Hợp đồng xây dựng Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Q có giá hợp đồng là 2.250.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm năm mƣơi triệu đồng), Lê Lưu B tạm ứng số tiền 675.000.000 đồng (Sáu trăm bảy mƣơi lăm triệu đồng). Tổng cộng số tiền tạm ứng là 1.475.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm bảy mƣơi lăm triệu đồng). Lê Lưu B không sử dụng số tiền tạm ứng của Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M để chi phí vào việc thi công hai công trình mà sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân và thuê lại Công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại dịch vụ xây dựng vận tải K Hùng, có trụ sở tại E3-61 đƣờng số X, khu dân cƣ Phú A, phƣờng Phú T, quận Cái R, thành phố Cần T do anh Lê Minh K, chức vụ Giám đốc làm đại diện và anh Lâm Thế T1, địa chỉ Khu dân cƣ Hoàng Quân, đƣờng số X, phƣờng Thƣờng T, quận Cái R, thành phố Cần T thi công. Cụ thể là:

1. Công trình nạo vét tạo nguồn kết hợp bờ bao bờ tây kênh Tân Công Sính (cầu Đƣờng Thét - cụm dân cƣ), công trình này chia làm 2 đoạn:

- Đoạn 1: Thi công đƣợc một phần khối lƣợng là chiều dài 1,5km; rộng 3,5m; sâu khoảng 27cm. Số tiền chi phí thi công là 183.442.862 đồng (Một trăm tám mƣơi ba triệu bốn trăm bốn mƣơi hai nghìn tám trăm sáu mƣơi hai đồng). Anh Lâm Thế T1 thi công đƣợc số tiền là 77.000.000 đồng (Bảy mƣơi bảy triệu đồng), nhƣng Lê Lưu B chỉ có thanh toán cho anh Lâm Thế T1 đƣợc 51.470.000 đồng (Năm mƣơi một triệu bốn trăm bảy mƣơi nghìn đồng), Lê Lưu B còn nợ lại 25.530.000 đồng (Hai mƣơi lăm triệu năm trăm ba mƣơi nghìn đồng).

Trong khoảng thời gian anh T1 thi công thì Lê Lưu B có mƣợn của anh T1 30.000.000 đồng (Ba mƣơi triệu đồng). Lê Lưu B nợ anh T1 tổng cộng là 55.530.000 đồng (Năm mƣơi lăm triệu năm trăm ba mƣơi nghìn đồng).

- Đoạn 2: Thi công đƣợc một phần khối lƣợng là 628m; rộng 2,5m. Số tiền chi phí thi công là 354.067.854 đồng (Ba trăm năm mƣơi bốn triệu không trăm sáu mƣơi bảy nghìn tám trăm năm mƣơi bốn đồng). Anh Lê Minh K chi phí số tiền thi công là 321.949.219 đồng (Ba trăm hai mƣơi mốt triệu chín trăm bốn mƣơi chín nghìn hai trăm mƣời chín đồng), Lê Lưu B còn nợ chƣa thanh toán cho anh K. Lê Lưu B cho rằng anh K chỉ làm đƣợc 244.949.219 đồng (Hai trăm bốn mƣơi bốn triệu chín trăm bốn mƣơi chín nghìn hai trăm mƣời chín đồng), do trừ đi số tiền anh T1 đã làm đƣợc 77.000.000 đồng (Bảy mƣơi bảy triệu đồng).

Ngoài khối lƣợng nêu trên anh K có đào thêm một đoạn 2km, ngang 3,5m, sâu 0,5m thành tiền là 70.000.000 đồng (Bảy mƣơi triệu đồng) nhƣng chƣa đƣợc nghiệm thu. Đoạn này Lê Lưu B chỉ thừa nhận 25.000.000 đồng (Hai mƣơi lăm triệu đồng).

Trong thời gian thi công, Lê Lưu B có hỏi mƣợn của K 110.000.000 đồng (Một trăm mƣời triệu đồng), mƣợn 2 lần, cụ thể nhƣ sau: lần thứ 1 là 40.000.000 đồng (Bốn mƣơi triệu đồng) chuyển khoản; lần thứ hai mƣợn 70.000.000 đồng (Bảy mƣơi triệu đồng) không có biên nhận. Lê Lưu B thừa nhận chỉ mƣợn 70.000.000 đồng (Bảy mƣơi triệu đồng).

2. Công trình xây dựng Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Quí:

Lê Lưu B cũng thuê Lê Minh K thi công, anh K thi công đến ngày 10/10/2017 thì ngƣng, do yêu cầu Lê Lưu B ký hợp đồng nhƣng Lê Lưu B không ký, Lê Lưu B cũng không thanh toán tiền cho K. Công trình này Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M lập biên bản nghiệm thu với Lê Lưu B, tổng giá trị của công trình này làm đƣợc là 493.221.000 đồng (Bốn trăm chín mƣơi ba triệu hai trăm hai mƣơi mốt nghìn đồng).

Ngày 12/8/2017, Lê Minh K có lập biên bản nghiệm thu với Lê Lưu B công trình này làm đƣợc tổng số tiền là 437.564.838 đồng (Bốn trăm ba mƣơi bảy triệu năm trăm sáu mƣơi bốn nghìn tám trăm ba mƣơi tám đồng). Nhƣng qua làm việc thì Lê Minh K xác nhận công trình này cũng có Lê Lưu B thi công, riêng Lê Minh K làm đƣợc 150.000.000 đồng (Một trăm năm mƣơi triệu đồng).

Do Lê Lưu B không trả tiền cho anh Lâm Thế T1 và Lê Minh K nên anh T1, anh K không thi công công trình làm cho công trình kéo dài, trễ hạn. Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M chấm dứt hợp đồng với Lê Lưu B và thuê nhà thầu khác thi công phần khối lƣợng công trình còn lại. Việc thi công đã hoàn thành đƣa vào sử dụng sau đó.

Ngoài ra, Lê Lưu B có sử dụng số tiền tạm ứng của Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M cất 02 lán trại để cho công nhân ở và chứa vật tƣ hết 80.000.000 đồng (Tám mƣơi triệu đồng), cụ thể:

Lán trại thứ nhất (Công trình nạo vét tạo nguồn kết hợp bờ bao bờ tây kênh Tân Công Sính) cất tại nhà anh Phạm Văn Y thuộc ấp 2A, xã Hƣng T, huyện Tháp M, diện tích 4m x 6m = 24m2, mái tol, kẽm sóng vuông, đòn tay sắt, khung sắt tiền chế, vách tol kẽm đố sắt, nền láng xi măng đệm gạch vỡ, trị giá 35.000.000 đồng (Ba mƣơi lăm triệu đồng);

Lán trại thứ hai (Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Q) diện tích 4m x 8m = 32m2, mái tol, kẽm sóng vuông, đòn tay sắt, khung sắt tiền chế, vách tol kẽm đố sắt, nền đất, trị giá 45.000.000 đồng (Bốn mƣơi lăm triệu đồng). Anh Hoàng Đình C1 trong lúc thi công đã cất và đã thỏa thuận mua lại lán trại này của Lê Lưu B với giá 10.000.000 đồng (Mƣời triệu đồng). Hiện anh Hoàng Đình C1 đã tháo dỡ lán trại đem về nhà tại ấp x, xã Mỹ H, huyện Tháp M, tỉnh Đồng T.

Lê Lưu B mua vật tƣ để thi công công trình Trung tâm học tập cộng đồng xã Mỹ Q còn nợ chị Đoàn Thị Kim P, chủ doanh nghiệp vật liệu xây dựng Toại Phƣợng tại khóm X, thị trấn Mỹ A, huyện Tháp M, số tiền 24.000.000 đồng (Hai mƣơi bốn triệu đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 55 ngày 09/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện Tháp M, kết luận:

Công trình Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Q có giá trị khối lƣợng thi công của công trình đến ngày 30/10/2017 là 493.221.000 đồng (Bốn trăm chín mƣơi ba triệu hai trăm hai mƣơi mốt nghìn đồng);

Công trình nạo vét tạo nguồn kết hợp bờ bao bờ tây kênh Tân Công Sính có giá trị khối lƣợng thi công của công trình đến ngày 30/10/2017 là 416.958.000 đồng (Bốn trăm mƣời sáu triệu chín trăm năm mƣơi tám nghìn đồng).

Tổng cộng 02 công trình là: 910.179.000 đồng (Chín trăm mƣời triệu một trăm bảy mƣơi chín nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 243 ngày 27/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Chứng thƣ bảo lãnh dự thầu phát hành ngày 07/4/2017 và ngày 20/4/2017 có hình dấu tròn màu đỏ nội dung “NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHI NHÁNH VĨNH L” không phải do Ngân hàng thƣơng mại Cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh - Chi nhánh Vĩnh L đóng ra.

Tại Bản kết luận giám định số 784 ngày 08/12/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: 02 (hai) chứng thƣ bảo lãnh thực hiện hợp đồng ngày 22/5/2017 và ngày 05/6/2017, có hình dấu tròn màu đỏ nội dung “Ngân hàng thƣơng mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vƣợng- Chi nhánh Vĩnh L” không phải do Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vƣợng - Chi nhánh Vĩnh L đóng ra. 02 (hai) chứng thƣ bảo lãnh tiền tạm ứng ngày 05/6/2017 và ngày 15/6/2017, có hình dấu tròn màu đỏ nội dung “Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vƣợng- Chi nhánh Vĩnh L” không phải do Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vƣợng - Chi nhánh Vĩnh Long đóng ra.

Tại Bản kết luận giám định số 29 ngày 18/6/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện Tháp M, kết luận:

Lán trại (Công trình nạo vét tạo nguồn kết hợp bờ bao bờ tây kênh Tân Công Sính) có trị giá 29.880.000 đồng (Hai mƣơi chín triệu tám trăm tám mƣơi nghìn đồng);

Lán trại (Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Q) có trị giá 36.832.000 đồng (Ba mƣơi sáu triệu tám trăm ba mƣơi hai nghìn đồng).

Tổng cộng hai lán trại: 66.712.000 đồng (Sáu mƣơi sáu triệu bảy trăm mƣời hai nghìn đồng).

Lê Lưu B nhận từ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M số tiền là 1.475.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm bảy mƣơi lăm triệu đồng), tổng khối lƣợng hai công trình Lê Lưu B đã thi công và thuê anh Lâm Thế T1, Lê Minh K thi công số tiền 976.891.000 đồng (Chín trăm bảy mƣơi sáu triệu tám trăm chín mƣơi một nghìn đồng), Lê Lưu B đã chiếm đoạt của Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M 498.109.000 đồng (Bốn trăm chín mƣơi tám triệu một trăm lẽ chín nghìn đồng), đến nay chƣa thanh toán lại.

Về trách nhiệm dân sự:

Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M yêu cầu Lê Lưu B khắc phục số tiền 564.821.000 đồng (Năm trăm sáu mƣơi bốn triệu tám trăm hai mƣơi một nghìn đồng), không chấp nhận khoảng tiền cất hai lán trại là 66.712.000 đồng (Sáu mƣơi sáu triệu bảy trăm mƣời hai nghìn đồng), vì theo hợp đồng thì khi nào xây dựng hoàn thành công trình thì mới cho thanh toán lán trại. Lê Lưu B đồng ý bồi thƣờng, trong quá trình điều tra Lê Lưu B đã nộp khắc phục đƣợc số tiền 30.000.000 đồng (Ba mƣơi triệu đồng) nhƣ đã nêu, còn lại 534.821.000 đồng (Năm trăm ba mƣơi bốn triệu tám trăm hai mƣơi mốt nghìn đồng) Lê Lưu B chƣa bồi thƣờng.

Chị Nguyễn Thị Mộng T2, là kế toán trƣởng Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M, đã tự nguyện nộp lại cho Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất số tiền 534.821.000 đồng (Năm trăm ba mƣơi bốn triệu tám trăm hai mƣơi một nghìn đồng). Chị T2 yêu cầu Lê Lưu B có trách nhiệm trả lại số tiền 534.821.000 đồng (Năm trăm ba mƣơi bốn triệu tám trăm hai mƣơi một nghìn đồng).

Anh Lê Minh K, yêu cầu Lê Lưu B trả số tiền là 651.949.219 đồng (Sáu trăm năm mƣơi một triệu chín trăm bốn mƣơi chín nghìn hai trăm mƣời chín đồng). Lê Lưu B thừa nhận chỉ nợ của anh K 399.949.219 đồng (Ba trăm chín mƣơi chín triệu chín trăm bốn mƣơi chín nghìn hai trăm mƣời chín đồng).

Anh Lâm Thế T1, yêu cầu Lê Lưu B trả số tiền là 55.530.000 đồng (Năm mƣơi lăm triệu năm trăm ba mƣơi nghìn đồng). Lê Lưu B đồng ý, nhƣng chƣa trả.

Bà Đoàn Thị Kim P, chủ doanh nghiệp vật liệu xây dựng Toại Phƣợng tại khóm X, thị trấn Mỹ A, huyện Tháp M, yêu cầu Lê Lưu B trả 24.000.000 đồng (Hai mƣơi bốn triệu đồng) tiền Lê Lưu B mua vật liệu xây dựng công trình Trung tâm học tập cộng đồng xã Mỹ Q. Lê Lưu B đồng ý nhƣng chƣa trả.

Quá trình điều tra, Lê Lưu B cho rằng do vật tƣ tăng nhƣ mua cát và cừ tràm là không có căn cứ chứng minh, qua xác minh tại thời điểm thi công vật tƣ không tăng, mặc khác Lê Lưu B cũng không xuất trình đƣợc hóa đơn chứng từ các vật tƣ nêu trên. Số tài sản mà Lê Lưu B bỏ lại ở các công trình nhƣ cát, xi măng, đá là không đáng kể, Lê Lưu B cũng không yêu cầu và cũng không có căn cứ để chứng minh xử lý.

Vềvậtchứng:CơquanCảnhsátđiềutraCông anhuyện ThápMđãtạm giữ:

- Tiền Việt Nam 30.000.000 đồng (Ba mƣơi triệu đồng) do Lê Lưu B nộp khắc phục hậu quả;

- Tiền Việt Nam 10.000.000 đồng (Mƣời triệu đồng) do Lê Lưu B bán lại lán trại Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Q cho anh Hoàng Ðình C1;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng của Lê Lưu B.

Xét thấy không cần thiết tạm giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp M đã giao lại cho Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M số tiền 30.000.000 đồng (Ba mƣơi triệu đồng) do Lê Lưu B nộp khắc phục hậu quả.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2019/HS-ST ngày 24/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M đã quyết đ nh:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Lưu B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Lưu B 10 (mƣời) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Lưu B 01 (một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu, cơ quan tổ chức”. Buộc bị cáo Lê Lưu B phải chấp hành là 11 (Mƣời một) năm tù, thời hạn tù tính từ tạm giữ ngày 28/12/2018.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật đ nh.

Ngày 28 tháng 10 năm 2019, bị cáo Lê Lưu B có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nh hình phạt.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Lê Lưu B đã bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. ét mức hình phạt 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo Lê Lưu B phải chấp hành 11 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin giảm nh hình phạt nhƣng không cung cấp chứng cứ gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận bị cáo Lê Lưu B không có tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, không bào chữa bổ sung mà chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦA T A N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Lưu B đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, ngƣời làm chứng cùng với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Lê Lưu B đã dùng thủ đoạn gian dối, làm giả hai Chứng thƣ bảo lãnh dự thầu của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh - Chi nhánh Vĩnh L và chứng thƣ bảo lãnh hợp đồng, chứng thƣ bảo lãnh tạm ứng tiền của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vƣợng - Chi nhánh Vĩnh L để tham gia đấu thầu thi công xây dựng Công trình nạo vét tạo nguồn kết hợp bờ bao bờ tây kênh Tân Công Sính và Công trình xây dựng Trung tâm văn hóa học tập cộng đồng xã Mỹ Q và nhận tiền từ 02 gói thầu với số tiền 1.475.000.000 đồng của chủ đầu tƣ Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M. Sau đó, bị cáo thuê lại anh Lâm Thế T1 và anh Lê Minh K thi công công trình với số tiền 976.891.000 đồng, bị cáo đã chiếm đoạt của Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Tháp M số tiền 498.109.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Lê Lưu B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của ngƣời khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao dƣ luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hƣởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là ngƣời đã trƣởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân. Chỉ vì động cơ tƣ lợi, muốn nhanh chóng có đƣợc nhiều tiền để tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi nhƣ đã nêu trên. Khi thực hiện hành vi, bị cáo nhận thức r hành vi của mình là trái pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhƣng bị cáo v n cố tình thực hiện và thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Lưu B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. ét mức hình phạt 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo Lê Lưu B phải chấp hành 11 năm tù là phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng nhƣ các tình tiết giảm nh cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nh hình phạt nhƣng không xuất trình đƣợc tình tiết nào mới ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Lƣu B, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt.

[4] ét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Lê Lưu B là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo không đƣợc chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo Lê Lưu B. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Lưu B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạtbịcáoLê Lưu B 10 (mƣời) năm tùvềtội “Lừađảochiếm đoạttàisản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Lưu B 01 (một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo Lê Lưu B phải chấp hành là 11 (Mƣời một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2018.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Lê Lưu B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM HỘI ĐỒNG T

PH C TH M

Cỡ chữ