vanban.org

Bản án 355/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nh.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nh được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 154/2011 ngày 16/9/2011 của Ủy ban dân xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn Nhang - Hoàng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 355/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 27 - 6 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Giữ;

Ông Nguyễn Thị Thu Sương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 168/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1970;

Trú tại: Tổ 03, ấp Long Ph, xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970;

Trú tại: Tổ 03, ấp Long Ph, xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/02/2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nh trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Nh và ông H chung sống năm 1990, hôn nhân do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng dần về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, thường hay cãi nhau, ông H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, vợ chồng đã ly thân khoảng 08 tháng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên bà Nh yêu cầu ly hôn ông H.

- Về con chung: Bà Nh và ông H chung sống có 04 con chung tên Nguyễn Văn Th, sinh ngày 26/7/1992, Nguyễn Văn T, sinh ngày 14/11/1994, Nguyễn Văn T1, sinh ngày 15/8/1996, Nguyễn Thị Lệ Hoa, sinh ngày 16/5/2008. Hiện các cháu Th, T, T1 đã thành niên và có khả năng lao động được; còn cháu Hoa hiện đang sống với bà Nh nên bà Nh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Hoa, bà Nh không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tà i sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông H vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H.

Tại phiên toà:

Bà Nh có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông H vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà Nh và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đã ly thân hơn 08 tháng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà Nh yêu cầu ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Bà Nh và ông H chung sống có 04 con chung tên Nguyễn Văn Th, sinh ngày 26/7/1992, Nguyễn Văn T, sinh ngày 14/11/1994, Nguyễn Văn T1, sinh ngày 15/8/1996, Nguyễn Thị Lệ Hoa, sinh ngày 16/5/2008. Hiện các cháu Th, T, T1 đã thành niên và có khả năng lao động được; còn cháu Hoa hiện đang sống với bà Nh nên bà Nh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Hoa. Cháu Hoa đang sống với bà Nh do bà Nh chăm sóc nuôi dưỡng ổn định và cháu Hoa có nguyện vọng muốn tiếp tục ở với bà Nh nên đề nghị giao cháu Hoa cho bà Nh được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nh không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn H đang sinh sống và có hộ khẩu thường trú tại xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang. Bà Nh khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 T1 hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà Nh và ông H chung sống với nhau vào năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cải vả, ông có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng đã ly thân hơn 08 tháng. Hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Nh xin ly hôn với ông H. Quá trình giải quyết vụ án bà Nh kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy bà Nh đã kiên quyết ly hôn, Tòa án đã hòa giải cho ông bà đoàn tụ nhưng ông H, bà Nh đều vắng mặt. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nh.

- Về con chung: Bà Nh và ông H chung sống có 04 con chung tên Nguyễn Văn Th, sinh ngày 26/7/1992, Nguyễn Văn T, sinh ngày 14/11/1994, Nguyễn Văn T1, sinh ngày 15/8/1996, Nguyễn Thị Lệ Hoa, sinh ngày 16/5/2008. Hiện các cháu Th, T, T1 đã thành niên và có khả năng lao động được; còn cháu Hoa hiện đang sống với bà Nh nên bà Nh yêu cầu được tiếp tục nuôi chau Hoa . Xét, các cháu Th, T, T1 đều đã thành niên và có khả năng lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Hoa đang ở với bà Nh do bà Nh chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, bà Nh có yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Hoa, cháu Hoa có nguyện vọng muốn tiếp tục được ở với bà Nh, nên Hội đồng xét xử giao cháu Hoa cho bà Nh được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nh không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà Nh phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nh.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nh được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 154/2011 ngày 16/9/2011 của Ủy ban dân xã OLV, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Lệ Hoa, sinh ngày 16/5/2008, cho Nguyễn Thị Nh được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nh cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Nh phải chi ̣u 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) án

̀ phi Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) ta ̣m

́

̀ ứ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu số 0005385 ngày 20 tháng 3 năm 2023 của Chi

́ cu ̣c Thi hành án dân sự huyện CP.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ