vanban.org

Bản án 355/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 11/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/9/2020 Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TP BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 355/2020/HSST
Ngày 11/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Tú

Các hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Đừng và bà Bùi Thị Phương Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiếu; Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 343/2020/HSST ngày 14/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 369/2020/QĐXXST-HS ngày 29/10/2020 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn D; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 02 năm 1989 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Số 69 đường G, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 240931409, cấp ngày 04 tháng 03 năm 2013; Nơi cấp: Công an tỉnh Đăk Lăk; Tiền án, tiền sự: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Nguyễn Văn H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1956. Hiện trú tại: Số 69 đường G, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; Gia đình bị cáo có 03 anh em ruột; bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Bị cáo có vợ: Dương Thị Quỳnh N, sinh năm 1990 và 02 con lớn sinh năm 2012; Con nhỏ sinh năm 2018. Hiện trú tại: Số 69 đường G, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

Nhân thân: Ngày 09/12/2004 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội Cướp tài sản, tại Bản án số 228/HSST. Ngày 22/3/2005 bị TAND tỉnh Đắk Lắk xử phạt 3 năm 6 tháng tù giam về tội cướp tài sản, theo bản án số 42/2005/HSPT. Đến ngày 10/9/2007 thì chấp hành xong hình phạt tù và được xóa án tích.

Ngày 03/9/2020 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 22/5/2020, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, từ ngày 3/9/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Hoàng Văn D; Sinh năm 1983;

Địa chỉ: Số 46/4/2 đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. (Có mặt)

- Anh Đào Anh T; Sinh năm: 1988

Địa chỉ: Số 123 đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt)

- Chị Dương Thị Quỳnh N; Sinh năm: 1990

Địa chỉ: Số 69 đường G, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D, là đối tượng nghiện ma túy Methamphetamine hay còn gọi là ma túy đá. Vào khoảng 22h30 ngày 02/9/2020, D mượn điện thoại di động của một người đi đường (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), điện thoại cho cho đối tượng tên D1 (không rõ lai lịch) để rủ nhậu. Sau đó, D1 rủ D đến dãy trọ tại địa chỉ số 100/12 đường N, phường T, thành phố B của anh Hoàng Văn D, sinh năm 1983, trú tại 46/4/2 đường L, phường T, thành phố B để nhậu tại phòng 01 người con gái có tên thường gọi là Đ (chưa rõ lai lịch). Sau đó, D đón xe ôm (chưa rõ lai lịch) đi đến phòng trọ trên thì gặp D1, Đ, L và một người nam giới (chưa xác định được nhân thân lai lịch). D ngồi nhậu được một lúc thì say nên nằm ngủ. Đến khoảng 23h30 cùng ngày thì D tỉnh dậy, thấy tại khu vực giữa phòng có 01 bịch ny lông bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá nên D hỏi mua thì L đồng ý bán cho D với số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Sau khi mua số ma túy trên, D cất giấu tại túi áo phía trước bên trái đang mặc trên người nhưng do trời mưa không về được nên D ngủ lại. Đến khoảng 9h30 ngày 03/9/2020, D đi bộ một mình ra khu vực đường N, phường T, thành phố B để đón xe về nhà. Khi D đi ngang qua trước số nhà 100 đường N thì bị Công an phường Tự An kiểm tra. Tại đây, D sợ Công an phát hiện nên đã dùng tay lấy gói ma túy đá cất giấu tại túi áo mặc trên người ném xuống khu vực đất dưới chân nhưng bị Công an phường Tự An phát hiện bắt quả tang thu giữ gói ma túy và đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận số: 845 ngày 10/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3870 gam, loại Methamphetamine.

Với các nội dung trên, tại bản cáo trạng số 347/CT-VKS ngày 13/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Nguyễn văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã mô tả và thừa nhận do nghiện ma túy nên vào khoảng 23h30 ngày 02/09/2020 bị cáo có mua của L một gói ma túy trị giá 500.000đ. Sau khi mua số ma túy trên, đến khoảng 9h30 ngày 03/9/2020, bị cáo đi bộ ra khu vực đường N, phường T, thành phố B để đón xe về nhà. Khi đi được một đoạn thì bị Công an phường Tự An kiểm tra bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên Bản cáo trạng số 347/CT-VKS ngày 13/10/2020, đồng thời phát biểu quan điểm phân tích tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị HĐXX:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự. Khoản 1 khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 0,3586 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là tang vật của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Về phần dân sự của vụ án: Không.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an Tp. Buôn Ma Thuột. Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các tài liệụ, chứng cứ thu thập được có lưu trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 03/9/2020 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3870 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

……;

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Do tác hại rất nguy hiểm của chất ma tuý nên pháp luật nhà nước ta đã quy định chỉ có Nhà nước mới được quyền quản lý, mọi cá nhân bất kể ai có hoạt động tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc sở hữu chất ma túy đều vi phạm pháp luật hình sự. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hướng xấu đến xã hội về nhiều mặt, việc sử dụng ma tuý là nguyên nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS và cũng là nguyên nhân gây ra hàng loạt tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật, thậm chí là giết người để chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, cần phải có mức án tương phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để bị cáo có cơ hội từ bỏ ma túy và cũng để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét trong qúa trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai báo hành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo cũng đang nuôi hai con nhỏ nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta đối với người phạm tội thật thà khai báo. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra cũng như xét hỏi công khai tại phiên tòa xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự. Khoản 1 khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 0,3586 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với nguồn gốc ma túy trong vụ án trên, bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận mua của 01 người nam giới tên L và các đối tượng có tên thường gọi là Đ, D1, cùng đối tượng khác. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của L và các đối tượng nêu trên ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/9/2020

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,3586 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là tang vật của vụ án.

(Đặc điểm cụ thể theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản ngày 15/10/2020 giữa Công an Tp. Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án Tp. Buôn Ma Thuột).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí của Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Cỡ chữ