- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công Sơn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 355/2018/HS-ST Ngày 25/12/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạn.
2. Ông Nguyễn Văn Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐắkLắk
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 25/12/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 344/2018/TLST-HS ngày 05/12/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 338/2018/QĐXXST-HS ngày 13/12/2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Công S; Tên gọi khác: Không;
Sinh năm 1990; Tại: Tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Đường N, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hoá: 09/12;
Tiền án: 01; Tiền sự: Không;
Con ông: Nguyễn Tiến D , sinh năm: 1960; Con bà Đào Thị T , sinh năm: 1966, Cùng trú tại: Đường N, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Nhân thân:
Ngày 20/7/2006, bị Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Đ, xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người” quy định tại khoản 2, Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999, tại bản án số: 387/2006/HSPT. Ngày 17/07/2009, được đặc xá tha tù trước thời hạn, về địa phương sinh sống. Bị cáo đã được xoá án tích.
Ngày 24/9/2013, bị Công an phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt hình chính.
Ngày 28/9/2017, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn 03 tháng. Bị cáo đã chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính.
Ngày 21/3/2018, bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại Điều 138 Bộ Luật hình sự năm 1999, tại bản án số: 07/2018/HSST. Ngày 07/9/2018, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống. Bị cáo chưa được xoá án tích.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, từ ngày 27/10/2018 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Bà Vũ Thị Lan A. Sinh năm: 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Đường T, phường Tân An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Minh T (vắng mặt).
Địa chỉ: Đường L, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Công S là người nghiện chất ma tuý, đã có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2018, S đi bộ từ nhà đến trường tiểu học Võ Thị Sáu, địa chỉ: 60 Bà Triệu, phường Tự An, thành phố Buôn Ma Thuột, tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài và mua ma tuý sử dụng. Khi đi đến trường Võ Thị Sáu, S đi vào khu vực phòng làm việc của giáo viên thấy cửa phòng làm việc khoá, bên trong phòng không có người. S nhìn qua cửa sổ phía sau phòng làm việc thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu bạc trắng, viền màu đồng (mặt sau điện thoại bị nứt vỡ), ốp lưng điện thoại màu đỏ trắng, hình con mèo, của chị Vũ Thị Lan A đang để trên bàn làm việc cách cửa sổ khoảng 01m, không có người trông coi. S thò tay qua cửa sổ để lấy chiếc điện thoại di động nhưng không được, nên S đi đến nhà vệ sinh của trường tiểu học Võ Thị Sáu, lấy 01 cây lau nhà cán bằng gỗ, dài khoảng 1,6m, rồi quay lại phòng làm việc của chị A. Sơn dùng cây lau nhà khều chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus từ trên bàn rơi xuống ghế, sau đó S dùng tay trái kéo ghế lại gần cửa sổ, trộm cắp chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus bỏ vào túi quần, rồi tẩu thoát. Khi S đi bộ đến trụ điện trước nhà, ở địa chỉ: Đường P, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, S tháo ốp lưng điện thoại và 01 sim thuê bao của điện thoại di động Iphone 8 Plus, vứt bỏ tại trụ điện. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, S đi đến tiệm cầm đồ bán chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, cho anh Đỗ Minh T (là chủ tiệm cầm đồ) được số tiền 4.100.000 đồng. Số tiền này S tiêu xài cá nhân hết 400.000 đồng, còn lại số tiền 3.700.000 đồng, S cất giấu trên người. Sau khi bị trộm cắp tài sản, chị Vũ Thị Lan A đã trình báo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, để giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, S bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, phát hiện tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu bạc trắng, viền màu đồng và số tiền 3.700.000 đồng, là các tang vật chứng của vụ án để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 245/KLĐG ngày 02/11/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, dung lượng 64Gb, màu bạc trắng, viền màu đồng, số Imei: 356774084188275 (mặt sau điện thoại bị nứt); trị giá: 13.500.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 246/KLĐG ngày 02/11/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 01 ốp lưng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ trắng, hình con mèo, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không xác định được giá trị.
Quá trình điều tra xác định: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, dung lượng 64Gb, màu bạc trắng, viền màu đồng, số Imei: 356774084188275 (mặt sau điện thoại bị nứt vỡ), là tài sản của chị Vũ Thị Lan A. Ngày 13/11/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại chiếc điện thoại di động trên cho chị Lan Anh nhận quản lý, sử dụng. Chị Lan A đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.
Đối với 01 ốp lưng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ trắng, hình con mèo và 01 sim thuê bao, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Vũ Thị Lan A. Ngày 27/10/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã tiến hành truy tìm vật chứng, nhưng không thu giữ được. Hiện chị Lan A không yêu cầu bị cáo Nguyễn Công S bồi thường trị giá các tài sản không thu giữ được, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, bị cáo Nguyễn Công S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 05/12/2018 của Viê ên kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô êt, tỉnh Đăk Lăk truy tố bị cáo Nguyễn Công S về tô êi “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bô ê luâ êt hình sự năm 2015;
Tại phiên tòa, đại diê ên Viê ên kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô êt vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Công S và đề nghị Hô êi đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công S phạm tô êi “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bô ê luâ êt hình sự năm 2015 và áp dụng điểm h, s khoản 1, Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Công S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;
*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, trao trả 01 Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus cho chị Vũ Thị Lan A. Đối với 01 ốp lưng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus và 01 sim điện thoại là tài sản của chị Vũ Thị Lan A không thu hồi được. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, chị Lan A không yêu cầu bị cáo Nguyễn Công S bồi thường, nên không đề cập xử lý.
- Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã trả cho anh Đỗ Minh T số tiền 3.700.000 đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Công S bồi thường cho anh Đỗ Minh T số tiền 400.000 đồng (số tiền anh T mua điện thoại di động Iphone 8 Plus của bị cáo S).
- Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã trả cho ông Nguyễn Văn T 01 cây lau nhà cán bằng gỗ, dài khoảng 1,6m, là công cụ bị cáo Nguyễn Công S sử dụng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với người biết sự việc và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 26/10/2018, bị cáo Nguyễn Công S đi bộ đến trường tiểu học Võ Thị Sáu để tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến phòng làm việc của giáo viên, thấy cửa trước phòng làm việc khóa không có người, S nhìn qua cửa sổ phía sau thấy 01 điện thoại di động của chị Vũ Thị Lan A hiệu Iphone 8 Plus để trên bàn trị giá 13.500.000 đồng, S lấy được rồi đem ra tiệm cầm đồ bán để lấy tiền tiêu xài.
Hành vi phạm tội của bị cáo, bị Viê ên kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô êt, tỉnh Đăk Lăk truy tố bị cáo Nguyễn Công S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bô ê luâ êt hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp luâ êt.
Tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
. Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác và được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do động cơ tư lợi, lười lao động coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
Xét về nhân thân của bị cáo, hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại tỉnh Đắk Lắk. Được gia đình cho ăn học đến hết lớp 9/12, thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.
Ngày 20/7/2006, bị Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Đ, xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người” quy định tại khoản 2, Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999, tại bản án số: 387/2006/HSPT. Ngày 17/07/2009, được đặc xá tha tù trước thời hạn, về địa phương sinh sống. Bị cáo đã được xoá án tích.
Ngày 24/9/2013, bị Công an phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt hình chính.
Ngày 28/9/2017, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn 03 tháng. Bị cáo đã chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính.
Ngày 21/3/2018, bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại Điều 138 Bộ Luật hình sự năm 1999, tại bản án số: 07/2018/HSST. Ngày 07/9/2018, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống chưa được xoá án tích thì đến ngày 26/10/2018, bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk từ ngày 27/10/2018 cho đến nay. Lần phạm tội này có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “Tái phạm”. Điều đó chứng tỏ bị cáo là tên tội phạm liều lĩnh, coi thường pháp luật, vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm cắp được trả lại cho người bị hại. Vì vậy khi lượng hình cần được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt theo đúng quy định của pháp luật nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
Đối với 01 cây lau nhà cán bằng gỗ, dài khoảng 1,6m, là công cụ bị cáo Nguyễn Công S sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Nguyễn Văn T, là nhân viên làm việc tại trường tiểu học Võ Thị Sáu. Việc bị cáo S sử dụng cây lau nhà làm công cụ phạm tội ông T không biết, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý, là phù hợp. Ngày 19/11/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho ông T nhận quản lý, sử dụng.
Đối với anh Đỗ Minh T, là người mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus mà bị cáo Nguyễn Công S trộm cắp được với giá 4.100.000 đồng, nhưng anh T không biết chiếc điện thoại trên là tài sản do bị cáo S trộm cắp mà có, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý là phù hợp. Ngày 20/11/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã trả lại cho anh T số tiền 3.700.000 đồng. Hiện anh T yêu cầu bị cáo S tiếp tục bồi thường số tiền 400.000 đồng (số tiền anh T mua điện thoại di động Iphone 8P Plus của bị cáo S).
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo Nguyễn Công S, ngày 27/10/2018, cơ quan Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra Quyết định xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt cảnh cáo, theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, đối với bị cáo S là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, trao trả 01 Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, dung lượng 64Gb, màu bạc trắng, viền màu đồng, số Imei: 356774084188275 (mặt sau điện thoại bị nứt vỡ), là tài sản của chị Vũ Thị Lan A. Đối với 01 ốp lưng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ trắng, hình con mèo và 01 sim thuê bao, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Vũ Thị Lan A. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra chị Lan A không yêu cầu bị cáo Nguyễn Công S bồi thường khoản tiền gì thêm, nên không đề cập xử lý.
- Buộc bị cáo Nguyễn Công S bồi thường cho anh Đỗ Minh T số tiền 400.000 đồng .
Xét trong quá trình điều tra, truy tố. Điều tra viên đã thi hành các quyết định tố tụng, tiến hành truy tìm, thu thập vật chứng, khám nghiệm hiện trường cũng như lấy lời khai của bị cáo và các đương sự khác liên quan trong vụ án là đảm bảo đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Kiểm sát viên đã thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nên bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công S 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27/10/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Nguyễn Công S bồi thường cho anh Đỗ Minh T số tiền 400.000 đồng .
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Công S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1-TANDTC; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND TP.BMT; - Công an TP.BMT; - CCTHADS TP.BMT; - THA phạt tù (để thi hành) ; - Sở tư pháp tỉnh ĐăkLăk; - Nhà tạm giữ Công an TP.BMT; - Bị cáo; - Các đương sự - Lưu: HS, VP . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thành |