- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T yêu cầu ly hôn với ông N."
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 354/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/12/2024 V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Phượng
2. Bà Lê Thị Gắn
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hồ Hải Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 230/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 307/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Anh T, sinh năm xxxx. (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Đường Đ, khu phố B, phường A, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm xxxx. (vắng mặt không lý do)
Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn VL, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn ngày 01/7/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Anh T trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông N tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1989, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VL (nay là thị trấn VL), huyện G. Sau khi cưới, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2000 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi và đã ly thân cho đến nay nên bà yêu cầu được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng bà chung sống có 04 người con chung tên Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm xxxx; Nguyễn Thị Như M sinh năm xxxx; Nguyễn Xuân T2, sinh năm xxxx và Nguyễn Chí T3, sinh năm xxxx hiện đều đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn N không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn dù ông đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Anh T, cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Xét yêu cầu ly hôn của bà T, nhận thấy:
Bà T và ông N chung sống vợ chồng vào năm 1989, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VL (nay là thị trấn VL) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 168 ngày 08/10/2001 nên là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, theo lời trình bày của bà T thì cuộc sống chung của vợ chồng bà hạnh phúc đến năm 2000 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên đã ly thân cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập ông N nhưng ông không đến Tòa án, không gửi văn bản trình bày ý kiến hay phản đối yêu cầu ly hôn của bà T. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xem như ông N mặc nhiên thừa nhận N mâu thuẫn vợ chồng như bà T đã nêu và cho thấy ông cũng không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy hôn nhân của ông bà đã không còn hạnh phúc nên cần chấp nhận yêu cầu của bà T, cho bà được ly hôn với ông N là cần thiết và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà T và ông N chung sống có 04 người con chung gồm chị Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm xxxx; chị Nguyễn Thị Như M, sinh năm xxxx; chị Nguyễn Xuân T2, sinh năm xxxx và anh Nguyễn Chí T3, sinh năm xxxx hiện đều đã trưởng thành và ông bà không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Anh T. Bà Đặng Anh T được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013619 ngày 30/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G nên xem như bà đã nộp xong án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; - VKSND H.GCĐ; - CC.THADS H.GCĐ; - UBND thị trấn VL; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bích Thiền |