- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hòa P phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, i , s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 354/2022/HS-ST Ngày: 23-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.
Các H i thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hưng và ông Đinh Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 358/2022/TLST - HS, ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Hòa P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07 tháng 02 năm 2004; Tại: Tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; con ông: Trương Quốc V (sinh năm: 1980); Con bà: Đỗ Thị G (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Trương Hòa P đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 01/9/2022 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại:
1.Ông Trương Quốc V, sinh năm: 1980 ( Có mặt)
Địa chỉ: Đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Y , sinh năm: 2002 địa chỉ: Đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. ( Vắng mặt)
2. Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm: 1983, địa chỉ: Đường A, phường T, thành phố B t, tỉnh Đắk Lắk. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp ổn định nên Trương Hòa P nảy sinh ý định lén lút trộm cắp tài sản của gia đình, đem đi tiêu thụ lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 19 giờ, ngày 26/6/2022, Trương Hòa P đi vào phòng ngủ nhà mình ở địa chỉ: Đường T, phường T, thành phố B, lén lút trộm cắp ti vi hiệu Sam Sung, màu đen 43 Inch, mẫu sản phẩm: UA43K5520AK, kiểu sản phẩm: UA43K5520 của ông Trương Quốc V (là bố của P). Sau đó, P nhờ một người nam thanh niên tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô (chưa rõ đặc điểm và biển số) chở P cùng ti vi đến nhà anh Y , địa chỉ: Đường T, phường T, thành phố B, để bán cho anh Y . Do không biết, đây là tài sản phạm tội mà có nên anh Y đồng ý mua với giá 1.500.000 đồng. Anh Y trả trước cho P số tiền 1.300.000 đồng và nợ lại số tiền 200.000 đồng. Số tiền bán ti vi của ông V có được, P sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông V nghi ngờ P trộm cắp nên đã làm đơn trình báo gửi Công an phường T, thành phố B để xử lý theo quy định. Đến khoảng 20 giờ ngày 26/6/2022, anh Y đã giao nộp ti vi hiệu Sam Sung để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 150/KL-HĐĐGTS ngày 20/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 01 ti vi hiệu Sam Sung, màu đen 43 Inch, mẫu sản phẩm: UA43K5520AK, kiểu sản phẩm: UA43K5520, trị giá: 3.700.000 đồng
Bản cáo trạng số: 364/CT-VKS-HS ngày 30/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Trương Hòa P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trương Hòa P phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Trương Hòa P mức án: Từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Về vật chứng: Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Trương Quốc V nhận quản lý, sử dụng 01 ti vi hiệu Sam Sung, màu đen 43 Inch, mẫu sản phẩm: UA43K5520AK, kiểu sản phẩm: UA43K5520, là tài sản của ông Trương Quốc V.
Về phần dân sự của vụ án: Quá trình điều tra, ông Trương Quốc V không yêu cầu bị cáo Trương Hòa P phải bồi thường gì, anh Y không yêu cầu bị cáo Trương Hòa P phải hoàn trả lại số tiền 1.300.000 đồng (là tiền anh Y bỏ ra để mua ti vi hiệu Sam Sung từ P) nên không đề cập giải quyết là phù hợp.
Đối với số tiền 1.300.000đ bị cáo có được từ việc bán chiếc ti vi trộm cắp của ông Trương Quốc V nên cần truy thu để sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của các bị cáo đúng như nội dung trên, và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Trương Hòa P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có cơ sở xác định:
Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác nên khoảng 19 giờ ngày 26/6/2022, tại nhà của ông Trương Quốc V, ở địa chỉ: Đường T, phường T, thành phố B, Trương Hòa P đã lén lút trộm cắp tài sản của ông Trương Quốc V, gồm: 01 ti vi hiệu Sam Sung, màu đen 43 Inch, trị giá tài sản là 3.700.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Trương Hòa P về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tr m cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thu c m t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
Xét thấy, bị cáo là công dân có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống, bị cáo biết rằng tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác đều sẽ bị pháp luật trừng trị. Song do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội được bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra xác định, 01 ti vi hiệu Sam Sung, màu đen 43 Inch, mẫu sản phẩm: UA43K5520AK, kiểu sản phẩm: UA43K5520, là tài sản của ông Trương Quốc V. Ngày 01/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Trương Quốc V nhận quản lý, sử dụng, là phù hợp cần chấp nhận.
Về phần dân sự của vụ án: Quá trình điều tra, ông Trương Quốc V không yêu cầu bị cáo Trương Hòa P phải bồi thường gì, anh Y không yêu cầu bị cáo Trương Hòa P phải hoàn trả lại số tiền 1.300.000 đồng (là tiền anh Y bỏ ra để mua ti vi hiệu sam sung từ P) nên không đề cập giải quyết là phù hợp.
Đối với số tiền 1.300.000đ bị cáo có được từ việc bán chiếc ti vi trộm cắp của ông Trương Quốc V nên cần truy thu để sung Ngân sách nhà nước là phù hợp cần chấp nhận.
Các tình tiết khác: Đối với Y, là người mua 01 ti vi hiệu sam sung từ bị cáo Trương Hòa P. Quá trình điều tra xác định, anh Y Bi Niê không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với người nam tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người chở Trương Hòa P mang ti vi đi tiêu thụ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, i , s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trương Hòa P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Trương Hòa P: 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
[2] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại 01 ti vi hiệu Sam Sung, màu đen 43 Inch, mẫu sản phẩm: UA43K5520AK, kiểu sản phẩm: UA43K5520, cho ông Trương Quốc V nhận quản lý, sử dụng.
- Truy thu của bị cáo Trương Hòa P số tiền 1.300.000đ ( Một triệu ba trăm ngàn đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trương Hòa P phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh,VKSND TP. BMT; - TAND tỉnh; - Công an TP. BMT; - CCTHADS TP, THA phạt tù (để thi hành); - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo, đương sự; - Chánh án ; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Nguyệt |