vanban.org

Bản án 354/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vận chuyển

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 09/08/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vận chuyển — án dân sự — "TC HĐ VẬN CHUYỂN NƯƠNG-LỘC"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 530 Bộ luật Dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 354/2022/DS-PT

Ngày: 09/08/2022

V/v “Tranh chấp về hợp đồng vận chuyển tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy. - Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng Bà Nguyễn Thị Võ Trinh - Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Bà Huỳnh Thị Đạm - Kiểm sát viên. Ngày 09/8/2022, tại Trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2022/TLPT-DS ngày 29 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vận chuyển tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2022/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 232/2022/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm N1, sinh năm 1970 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát. Địa chỉ: A, Khóm 2, thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Phước T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh Đồng Tháp; là đại diện theo ủy quyền. Bị đơn: - Ông Lê Hoàng L2, sinh năm 1974 - Bà Võ Thị Tuyết H3, sinh năm 1975 Cùng địa chỉ: Số A, KDC A, ấp A, xã Tân Phú Đông, tH3nh phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Đại diện hợp pháp của ông L2: Bà Võ Thị Tuyết H3, sinh năm 1975. Số 42A, KDC Tiền Giang, ấp Phú An, xã Tân Phú Đông, tH3nh phố Sa Đéc, tỉnh

Đồng Tháp; là đại diện theo ủy quyền. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L2, bà H3: Luật sư Thái Quang Trí - Luật sư Văn phòng Luật sư Chính Nghĩa, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Song T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Lô 41, dãy A7, KDC Đông Khánh, xã Tân Khánh Đông, tH3nh phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Người kháng cáo: Lê Hoàng L, Võ Thị Tuyết H là bị đơn của vụ án. Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, ông Nguyễn Phước T2 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm N1 trình bày: Vào tháng 3/2020, bà N1 là chủ hộ kinh doanh Sơn Phát có đặt H3ng tại Công ty TNHH Tôn Thép Mạnh Tiến Phát, địa chỉ: 559, đường Cộng Hòa, Phường 13, quận Tân Bình, TH3nh phố Hồ Chí Minh, cụ thể như sau: TT | TênH3ng | Sốlượng | Đơngiá | TH3nhtiền Sắtphil0 | 800cây | 72.000đồng | 57.600.000 đồng Sắtphil2 | 500cây | 119.000đồng | 59.500.000 đồng Sắtphil4 | 500cây | 167.000đồng | 83.500.000 đồng Sắtphiló | 300cây | 219.200đồng | 65.760.000 đồng Sắtphil8 | l100cây | 282.500đồng | 28.250.000 đồng Tổng cộng 294.610.000 đồng Bà N1 đã thanh toán tiền cho công ty Mạnh Tiến Phát xong. Ngày 26/3/2020, bà N1 có hợp đồng miệng với ông Lê Hoàng L2 và bà Võ Thị Tuyết H3 là chủ xe tải biển số 66C- 109.13 để vận chuyển số H3ng nêu trên với giá vận chuyển là 6.551.000 đồng. Đến ngày 27/3/2020, ông L2 và bà H3 giao xe tải cho tài xế Nguyễn Song T2 điều khiển đến kho của Công ty Mạnh Tiến Phát tại số 121, đường Phan Văn Hớn, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TH3nh phố Hồ Chí Minh để nhận H3ng (có biên bản do tài xế Song T2 ký nhận đủ H3ng) mang về cửa H3ng của bà N1 tại thị trấn Tràm Chim để giao. Khi kiểm

tra H3ng thì bà N1 phát hiện số lượng H3ng giao bị thiếu so với đơn H3ng, cụ thể: TT | Tên Hồng | Số lượng thiếu | Đơn giá | TH3nh tiền Sắt phi 10 300 cây 72.000 đông 21.600.000 đông Sătphi 12 190 cây 119.000 đông 22.610.000 đông Sắt phi 14 201 cây 167.000 đồng 33.567.000 đồng Sắt phi 16 100 cây 219.200 đông 21.920.000 đông Tổng cộng 99.697.000 đồng Sau khi phát hiện sự việc thì bà N1 có nhờ đến Công an thị trấn Tràm Chim để giải quyết. Tại biên bản thỏa thuận ngày 31/3/2020 và biên bản làm việc ngày 06/8/2020 được lập tại Công an thị trấn Tràm Chim thì ông L2, bà H3 xác định nếu xác minh được nguyên nhân thất thoát H3ng hóa là do lỗi của công ty Mạnh Tiến Phát thì công ty Mạnh Tiến Phát sẽ chịu trách nhiệm với ông L2, bà H3, còn nếu là lỗi của tài xế Nguyễn Song T2 thì ông L2, bà H3 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà N1. Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Tam Nông đã xác định ông Nguyễn Song T2 đã làm thất thoát số lượng H3ng của bà N1 với giá trị 99.697.000 đồng, nguyên nhân là do ông Song T2 sai sót, thiếu kiểm tra trong qua trình nhận H3ng (chỉ đếm đầu sắt tính một đầu là một cây mà không để ý là do sắt bẻ cong, một cây có hai đầu) nhưng đã ký nhận đủ H3ng với Công ty Mạnh Tiến Phát. Do đó bà N1, yêu cầu ông L2, bà H3 liên đới bồi thường số tiền do H3ng hóa bị thất thoát là 99.697.000 đồng, cấn trừ với số tiền bà N1 thuê xe 6.551.000 đồng, ông L2, bà H3 còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 93.146.000 đồng. Yêu cầu phía ông L2, bà H3 trả lãi từ ngày 01/4/2020 đến ngày 01/5/2022 với mức lãi suất 0,85%/tháng là 19.000.000 đồng, yêu cầu tiếp tục trả lãi từ khi xét xử đến khi trả tiền xong. Bà N1 không yêu cầu ai khác cùng ông L2, bà H3 bồi thường cũng như xác định không có yêu cầu gì đối với ông Song T2 và công ty Mạnh Tiến Phát. * Bị đơn bà Võ Thị Tuyết H3, đồng thời là đại diện hợp pháp của bị đơn Lê Hoàng L2 trình bày: Ngày 26/3/2020, vợ chồng ông L2, bà H3 có nhận chở thuê sắt thép cho Cửa H3ng Sơn Phát do bà Nguyễn Thị Cẩm N1 làm chủ với tiền công là

6.551.000 đồng (việc thỏa thuận được thực hiện thông qua điện thoại, không lập tH3nh văn bản). Ngày 27/3/2020, vợ chồng ông L2, bà H3 giao xe ô tô tải biển số 66C-109.13 cho tài xế Nguyễn Song T2 để đến kho của Công ty Mạnh Tiến Phát tại xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TH3nh phố Hồ Chí Minh nhận H3ng về giao cho bà N1 tại cửa H3ng Sơn Phát. Khi đến Công ty Mạnh Tiến Phát, tài xế Song T2 đã ký hóa đơn thể hiện nhận đủ số sắt là: 800 cây sắt phi 10; 500 cây sắt phi 12; 500 cây sắt phi 14; 300 cây sắt phi 16; 100 cây sắt phi 18. Tuy nhiên, khi tài xe Song T2 về giao H3ng cho bà N1 vào ngày 28/3/2020 thì bà N1 kiểm tra phát hiện số lượng sắt bị thiếu hụt, cụ thể: 300 cây sắt phi 10; 190 cây sắt phi 12; 201 cây sắt phi 14; 100 cây sắt phi 16. Số lượng sắt bị mất quy ra tiền có giá trị là 99.697.000 đồng. Sự việc được bà N1 yêu cầu Công an thị trấn Tràm Chim giải quyết. Quá trình làm việc tại Công an Tràm Chim, tài xế Song T2 khai nhận sắt tại Công ty Mạnh Tiến Phát bao nhiêu về giao lại bấy nhiêu, ông không có lỗi gì hết. Nên ông L2, bà H3 có làm đơn yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Nông tiến H3nh điều tra việc mất sắt. Ngày 24/9/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Nông có Công văn số 83/CSĐT trả lời với nội dung: “…Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ xác định nguyên nhân ông Nguyễn Song T2 làm thất thoát số lượng thép như bà H3 nêu là do ông T2 sai sót, thiếu kiểm tra trong quá trình nhận H3ng (chỉ đếm đầu sắt tính một đầu là một cây mà không để ý là do sắt bẻ cong, một cây có hai đầu) nhưng đã ký nhận đủ H3ng với Công ty Mạnh Tiến Phát do đó vụ việc không có dấu hiệu phạm tội…”. Từ khi sự việc xảy ra đến nay, tài xế Song T2 không hề thể hiện trách nhiệm bồi thường đối với cửa H3ng Sơn Phát. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà N1 thì ông L2, bà H3 có ý kiến như sau: Ông L2, bà H3 đồng ý cùng liên đới bồi thường cho bà N1 số tiền sắt, thép bị mất là 93.146.000 đồng, không yêu cầu ai khác cùng có trách nhiệm trả tiền cho bà N1. Đối với yêu cầu tính lãi của bà N1 thì ông L2, bà H3 không đồng ý. Đối với việc ông Song T2 là tài xế được ông L2, bà H3 thuê vận chuyển H3ng hóa nhưng thiếu sót, kiểm đếm dẫn đến thất thoát H3ng hóa thì ông L2, bà H3 xác định sẽ tự thỏa thuận với ông Song T2 về trách nhiệm bồi thường, không yêu cầu gì với ông Song T2 trong vụ án này. Trường hợp không thỏa thuận được thì ông L2, bà H3 sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Ông L2, bà H3 cũng xác định không có yêu cầu gì đối với công ty Mạnh Tiến Phát trong vụ án này.

Ngoài ra, ông L2, bà H3 còn trình bày thêm là khi sự việc xảy ra thì vợ chồng ông bà có nộp tại Công an Tràm Chim số tiền 90.000.000 đồng để đảm bảo việc bồi thường cho bà N1, tuy nhiên hiện nay ông bà đã nhận lại được số tiền trên, nên không có yêu cầu gì trong vụ án này. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Song T2 trình bày: Ngày 27/3/2020 ông L2, bà H3 giao xe ô tô tải biển số 66C-109.13 cho ông Song T2 để đến kho của Công ty Mạnh Tiến Phát tại xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TH3nh phố Hồ Chí Minh nhận H3ng về giao cho bà N1 tại cửa H3ng Sơn Phát. Khi đến Công ty Mạnh Tiến Phát, ông Song T2 đã ký hóa đơn thể hiện nhận đủ số sắt là: 800 cây sắt phi 10; 500 cây sắt phi 12; 500 cây sắt phi 14; 300 cây sắt phi 16; 100 cây sắt phi 18. Tuy nhiên, khi chở về giao H3ng cho bà N1 vào ngày 28/3/2020 thì bà N1 kiểm tra phát hiện số lượng sắt bị thiếu hụt, cụ thể: 300 cây sắt phi 10; 190 cây sắt phi 12; 201 cây sắt phi 14; 100 cây sắt phi 16. Số lượng sắt bị mất quy ra tiền có giá trị là 99.697.000 đồng. Ông Song T2 thừa nhận nguyên nhân bị thất thoát H3ng là do ông Song T2 sai sót, thiếu kiểm tra trong quá trình nhận H3ng (chỉ đếm đầu sắt tính một đầu là một cây mà không để ý là do sắt bẻ cong, một cây có hai đầu) nhưng đã ký nhận đủ H3ng với Công ty Mạnh Tiến Phát. Nay ông Nguyễn Song T2 thừa nhận bản thân mình có trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thường cho ông L2, bà H3, tuy nhiên do ông L2, bà H3 không có yêu cầu gì với ông trong vụ án này nên tự ông Song T2 và ông L2, bà H3 sẽ tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, nếu không thỏa thuận được thì ông L2, bà H3 có quyền khởi kiện ông Song T2. Ngoài ra ông Song T2 xác định không có yêu cầu gì khác trong vụ án này cũng như xác định không có yêu cầu gì với công ty Mạnh Tiến Phát. * Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 14/2022/DS-ST ngày 20/5/2022, Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm N1 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát Buộc ông Lê Hoàng L2, bà Võ Thị Tuyết H3 liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm N1 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát số tiền 93.146.000 đồng và tiền lãi chậm trả 18.554.500 đồng. Tổng cộng: 111.700.500 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi H3nh án; mà người phải thi H3nh án chưa thi H3nh xong các khoản tiền phải trả cho, thì H3ng tháng người phải thi H3nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi H3nh án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi H3nh án xong.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: - Ông Lê Hoàng L2, bà Võ Thị Tuyết H3 liên đới nộp 5.585.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. - Bà Nguyễn Thị Cẩm N1 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Sau khi cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí 2.492.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0013746 ngày 19/5/2021 của Chi cục Thi H3nh án dân sự tH3nh phố Sa Đéc, bà N1 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát được nhận lại 2.149.000 đồng. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/6/2022, ông Lê Hoàng Lộc và bà Võ Thị Tuyết Hà có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu đưa công ty TNHH Mạnh Tiến Phát tham gia vụ kiện với vai trò người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của ông Lê Hoàng Lộc và bà Võ Thị Tuyết Hà là không có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lộc, bà Hà; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Lê Hoàng Lộc và bà Nguyễn Thị Tuyết Hà, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các bên đương sự thì vào ngày 26/3/2020, bà Nguyễn Thị Cẩm N1 có hợp đồng miệng với ông Lê Hoàng L2 và bà Võ Thị Tuyết H3 để vận chuyển sắt thép có trị giá 294.610.000 đồng từ kho của Công ty Mạnh Tiến Phát tại số 121, đường Phan Văn Hớn, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TH3nh phố Hồ Chí Minh về Cửa H3ng của bà N1 tại thị trấn Tràm Chim để giao cho bà N1 với giá vận chuyển là 6.551.000 đồng, tuy nhiên khi tài xế của ông L2, bà H3 là ông Nguyễn Song T2 giao H3ng cho bà N1 thì số lượng sắt bị thiếu tương đương với số tiền

99.697.000 đồng. Qua thời gian xử lý, giải quyết của cơ quan chức năng cũng như các bên đã thống nhất xác định được nguyên nhân là do tài xế và người trực tiếp đi nhận hàng bên phía ông Lộc, bà Hà là ông Nguyễn Song T2 đã có sai sót, thiếu kiểm tra trong qua trình nhận H3ng (chỉ đếm đầu sắt tính một đầu là một cây mà không để ý là do sắt bẻ cong, một cây có hai đầu) nhưng đã ký nhận đủ H3ng với Công ty Mạnh Tiến Phát, nên lỗi gây thiệt hại là thuộc về phía vận chuyển, tức phía bị đơn. Mặt khác, chủ thể bên vận chuyển trong giao dịch dân sự của hợp đồng vận chuyển là ông Lộc, bà Hà chứ không phải ông Toàn; việc ông Toàn có nghĩa vụ dân sự đối với ông Lộc, bà Hà là mối quan hệ khác. Và vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử buộc bị đơn phải có nghĩa vụ bồi thường cho nguyên đơn số tiền thiệt hại về tài sản chưa bao gồm tiền lãi là 99.697.000 đồng, là có căn cứ, theo quy định tại khoản 1 Điều 541 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngoài ra, tại cấp sơ thẩm, phía bị đơn cũng thống nhất bồi thường thiệt hại số tiền 99.697.000 đồng cho nguyên đơn, chỉ không đồng ý trả lãi đối với số tiền này. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn không đồng ý trả lãi, xét thấy phía nguyên đơn cũng không có thỏa thuận thời hạn trả nợ đối với số tiền anh Lộc, chị Hà nên theo quy định tại điều 357 thì không phát sinh số tiền lãi nên không chấp nhận số tiền lãi đối với yêu cầu của nguyên đơn. [2] Xét lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng vụ diễn ra đến khi được giải quyết và tranh chấp rất lâu là do phía ông Song Toàn tránh né, không hợp tác chứ không phải lỗi của bị đơn, nên việc Tòa án xét xử buộc phía bị đơn phải chịu tiền lãi đối với số tiền thiệt hại là chưa thấu tình, đạt lý và đề nghị đưa Công ty Mạnh Tiến Phát vào tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày này của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là chưa phù hợp, bởi vì: chủ thể trong hợp đồng vận chuyển, tức bên vận chuyển là ông Lộc, bà Hà chứ không phải ông Toàn; ông Toàn chỉ là người làm công, nhân viên của các bị đơn, nên nghĩa vụ bồi thường thiệt hại xuất phát từ hợp đồng là phải do chủ thể của hợp đồng, tức các bị đơn thực hiện, tức là ngay sau khi xảy ra thiệt hại cho nguyên đơn thì bị đơn phải bồi thường thiệt hại ngay cho nguyên đơn, còn việc sau đó bị đơn có yêu cầu ông Toàn hoàn trả lại cho mình hay không là mối quan hệ khác. Còn việc đưa Công ty Mạnh Tiến phát là không cần thiết nên chỉ chấp nhận một phần đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. [3] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của

pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là hủy một phần bản án sơ thẩm về phần lãi suất do bản án vượt quá yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ một phần như nhận định của Hội đồng xét xử, nên chỉ chấp nhận một phần. [4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm. [5] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên các bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. [6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 148 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 530, Điều 534 và Điều 541 của Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: - Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Hoàng Lộc và bà Võ Thị Tuyết Hà. - Sửa một phần bản án sơ thẩm số 14/2022/DS-ST ngày 20/5/2022 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc về phần lãi suất. 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm N1 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát. Buộc ông Lê Hoàng L2, bà Võ Thị Tuyết H3 liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm N1 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát số tiền 93.146.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi H3nh án; mà người phải thi H3nh án chưa thi H3nh xong các khoản tiền phải trả cho, thì H3ng tháng người phải thi H3nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi

H3nh án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi H3nh án xong. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: - Ông Lê Hoàng L2, bà Võ Thị Tuyết H3 liên đới nộp 4.657.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. - Bà Nguyễn Thị Cẩm N1 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Sau khi cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí 2.492.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0013746 ngày 19/5/2021 của Chi cục Thi H3nh án dân sự tH3nh phố Sa Đéc, bà N1 - Chủ hộ kinh doanh Sơn Phát được nhận lại 2.149.000 đồng. 3. Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Hoàng Lộc và bà Võ Thị Tuyết Hà mỗi người được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Lộc, bà Hà đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0000834, 0000835 ngày 03/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ