- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 354/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2019 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Thế Cần – Bí thư Đoàn phường Thống Nhất.
2. Ông Trần Công Danh – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1429/2019/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 425/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 11/11/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Minh Y, sinh năm: 1974.
Địa chỉ: Tổ 36, khu phố 4B, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Phạm Minh H, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: Tổ 36, khu phố 4B, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
(Bà Yến có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, ông Hồng vắng mặt không lý do tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện 06/6/2019, bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị Minh Y trình bày:
Bà và ông H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/12/2002, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của người Việt Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vả, to tiếng với nhau. Mặc dù, đã nhiều lần bà và ông Hồng ngồi lại để hòa giải hàn gắn gia đình nhưng không được. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông H, là vợ chồng nhưng không ai còn quan tâm cuộc sống của nhau nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hồng.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là chị Phạm Thu Hằ, sinh ngày 15/01/1993 và anh Phạm Minh Th, sinh ngày 18/02/1993. Hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu xem xét.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Minh H đã được Tòa án xác minh địa chỉ cư trú tại Công an phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, theo nội dung văn bản xác minh thì ông Hồng hiện vẫn đang cư trú tại địa chỉ tổ 36, khu phố 4B, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Hồng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, ông Hồng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày:
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh Y đối với bị đơn ông Phạm Minh H về việc ly hôn, về quan hệ hôn nhân: Bà Y được ly hôn với ông H, về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là chị Phạm Thu Hằ, sinh ngày 15/01/1993 và anh Phạm Minh Th, sinh ngày 18/02/1993. Hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động bà Y không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, về tài sản chung, nợ chung: Do ông H vắng mặt không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự:
Nguyên đơn bà Lê Thị Minh Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Minh H căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định bà Y là nguyên đơn, ông H là bị đơn trong vụ án.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Phạm Minh H hiện nay đang cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng khác: Ngày 22/10/2019 nguyên đơn bà Y có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn được bà Y viết và nộp tại Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh địa chỉ cư trú của bị đơn ông Phạm Minh H tại Công an phường Trảng Dài xác định hiện nay ông Hồng cư trú tại tổ 36, khu phố 4B, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Hồng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, ông Hồng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Yến và ông Hồng.
Nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Minh Y và ông Phạm Minh H tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/12/2002 nên áp dụng các Điều 5, 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, bà Yến xác định không còn tình cảm với ông Hồng, do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vả, to tiếng với nhau. Theo biên bản xác minh mâu thuẫn tại địa phương ngày 23/9/2019 nơi bà Yến và ông H sinh sống trước đây xác định giữa bà Y và ông H có mâu thuẫn hay không địa phương không nắm được.
Đối với ông Hồng thì theo kết quả xác minh tại Công an phường Trảng Dài ngày 25/9/2019, xác định hiện nay ông Hồng cư trú tại địa phương nên đã được Tòa án tiến hành nêm yết các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và phiên tòa là không thực hiện đúng nghĩa vụ của bị đơn, từ đó cho thấy ông H có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Như vậy, cuộc sống hôn nhân của bà Y và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu ly hôn của bà Y là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là chị Phạm Thu Hằ, sinh ngày 15/01/1993 và anh Phạm Minh Th, sinh ngày 18/02/1993. Hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà Y không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y khai không có, không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, ông H vắng mặt không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Lê Thị Minh Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 68, khoản 4 Điều 147, Điều 220, Điều 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng các Điều 51, 56, 57 khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng các Điều 5, 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;
Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh Y đối với bị đơn ông Phạm Minh H về việc ly hôn.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Minh Y được ly hôn với ông Phạm Minh H.
Về con chung: Bà Y và ông H có 02 con chung là chị Phạm Thu Hằ, sinh ngày 15/01/1993 và anh Phạm Minh Th, sinh ngày 18/02/1993. Hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y khai không có, không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, ông H vắng mặt không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà Lê Thị Minh Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Y đã nộp theo biên lai thu số 0008463 ngày 18/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố B; - Chi cục THADS TP.B; - UBND nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Đào |