- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A. Buộc bà Châu Thị Hoàng C và ông Văn Công D có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A số tiền 50.
- Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 353/2019/DSST. Ngày: 24/10/2019 V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”. -Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Đạt. Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Châu Vũ Bình. 2/ Ông Nguyễn Trung Trực. Gạo, tỉnh Tiền Giang. -Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo không tham gia phiên tòa. Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2019/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2019 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2019/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 321/2019/QĐST-DS ngày 07/10/2019 giữa các đương sự: *Nguyên đơn: Huỳnh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1989 Địa chỉ: Phường M, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ: ấp M1, xã N1, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. *Bị đơn: Châu Thị Hoàng C, sinh năm 1972 (vắng mặt) Văn Công D, sinh năm 1971 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: ấp M2, xã N2, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. | Ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai cùng đề ngày 10/5/2019 nguyên đơn bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A trình bày:
Bà có tham gia 04 dây hụi 1.000.000 đồng/ tháng do bà Châu Thị Hoàng C (tên thường gọi là Chín D1) làm chủ hụi. Cụ thể như sau:
- 02 dây hụi khui ngày 15/6/2017 âm lịch, mỗi dây 20 phần, bà tham gia mỗi dây 01 phần, đóng hụi sống đến ngày 15/9/2018 âm lịch thì bà mới hay bà C đã tuyên bố vỡ hụi vào tháng 8/2018.
- 02 dây hụi khui ngày 25/10/2017 âm lịch, mỗi dây 20 phần, bà tham gia mỗi dây 01 phần, đóng hụi sống đến ngày 15/9/2018 âm lịch thì bà mới hay bà C đã tuyên bố vỡ hụi vào tháng 8/2018.
Sau đó, bà và bà C tổng kết thì bà C còn nợ bà số tiền hụi là 50.000.000 đồng, bà C có tự tay viết, ký tên “Giấy thỏa thuận trả tiền hụi” có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N2 ngày 07/01/2019. Theo nội dung thỏa thuận bà C trả nợ cho bà mỗi tháng 1.500.000 đồng kể từ ngày 20/02/2019 âm lịch, trả liên tục cho đến khi hết nợ, tuy nhiên đến nay bà C vẫn không trả cho bà bất cứ khoản tiền nào.
Việc bà C làm chủ hụi có chồng là ông Văn Công D biết, tiền hoa hồng chủ hụi bà C sử dụng làm kinh tế gia đình chung với ông D. Nay bà yêu cầu bà Châu Thị Hoàng C và anh Văn Công D liên đới trả cho bà số tiền hụi 50.000.000 đồng, trả ngay làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về pháp luật tố tụng: Bị đơn là bà Châu Thị Hoàng C và ông Văn Công D cư trú tại ấp M2, xã N2, huyện Chợ Gạo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bà C, ông D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà Châu Thị Hoàng C và ông Văn Công D.
Giữa bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A và bà Châu Thị Hoàng C có giao dịch dân sự trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.
Đại diện ủy quyền của bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A trình bày bà Châu Thị Hoàng C đến thời điểm Tòa án xét xử bà C còn nợ bà A số tiền hụi 50.000.000 đồng; bà C có làm “Giấy thỏa thuận trả tiền hụi”, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N2 đề ngày 07/01/2019.
Tại đơn khởi kiện, bà A yêu cầu vợ chồng bà C, ông D liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi 50.000.000 đồng làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Xét thấy, bà Châu Thị Hoàng C đã nhận đủ số tiền hụi sống mà bà A đã đóng; bà C có làm biên nhận với nội dung thỏa thuận trả nợ dần mỗi tháng 1.500.000 đồng kể từ ngày 20/02/2019 âm lịch, trả liên tục cho đến khi hết nợ, nhưng thực tế bà C đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận mặc dù bà A đã nhiều lần nhắc nhở; việc bà C không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong thỏa thuận về việc thanh toán tiền hụi cho bà A là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận theo nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A.
Xét thấy bà C làm chủ hụi trong thời kỳ hôn nhân với ông Văn Công D, ông D có biết; lợi nhuận từ việc làm hụi bà C sử dụng vào mục đích sinh hoạt chung trong gia đình, do đó việc bà A yêu cầu ông D có nghĩa vụ liên đới cùng với bà C trả nợ cho bà là có cơ sở để chấp nhận.
Khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp khác hoặc luật có quy định khác”. Bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A không yêu cầu tính lãi là có lợi cho vợ chồng bà Châu Thị Hoàng C và ông Văn Công D.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
-Áp dụng khoản 1 Điều 466, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
-Áp dụng Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ.
-Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A. Buộc bà Châu Thị Hoàng C và ông Văn Công D có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Châu Thị Hoàng C và ông Văn Công D chậm trả tiền thì bà C, ông D còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2.Aùn phí:
-Bà Châu Thị Hoàng C và ông Văn Công D phải liên đới chịu 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-Bà Huỳnh Nguyễn Hoàng A được hoàn lại 1.250.000 đồng theo biên lai thu số 0002556 ngày 16/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà A được quyền kháng cáo và cũng trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án bà C, ông D được quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tiền Giang; -VKSND huyện Chợ Gạo; -Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa (Đã ký) Nguyễn Quốc Đạt |