- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Phương L phạm tội môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phƣơng L (tên gọi khác: L1) phạm tội Môi giới mại dâm.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 352/2018/HSST Ngày 17-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Ông Từ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 368/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 353/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Phƣơng L (tên gọi khác: L1), sinh năm 1990 tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: Ấp P, xã Phú B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 10/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 19/9/2018, có mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1/ Anh Lê Thanh Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
2/ Anh Nguyễn Thắng L, sinh năm 1955; địa chỉ: Số 16A/26 khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
3/ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp 9, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
4/ Chị Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
5/ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp 5, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
6/ Anh Phạm Chu Nguyên H, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 133/2, khu phố 2, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 18 giờ ngày 19/9/2018, anh Lê Thanh Đ, Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Thắng L đang ngồi uống nƣớc thì anh Đ sử dụng điện thoại số 01647099149 gọi vào số 01688046500 của Nguyễn Thị Phƣơng L để hỏi L về việc có ngƣời bán dâm cho Đ, 02 ngƣời bạn và thỏa thuận giá 400.000đ/01 lần/01 khách tại nhà nghỉ N ở đƣờng GS3, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Nguyễn Thị Phƣơng L sử dụng điện thoại Oppo màu trắng sim số 01688046500 nhắn tin cho Nguyễn Thị Vân A (tên gọi khác: M) “01647099149 ông số này nè M ông điện thoại hai đứa chưa ông kêu chị đi nữa chị tắm xong chạy ra”, để rủ Vân A cùng đi bán dâm nhƣng Vân A chƣa kịp trả lời thì L gọi điện rủ đi bán dâm. L tiếp tục gọi điện rủ Nguyễn Thị H cùng đi bán dâm. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, anh Đ, Đ và L đến nhà nghỉ N thuê phòng 203, 302 và 303. Sau đó, Đ nhắn tin cho L để thông báo về số phòng, L thông báo lại cho Vân A và H biết để Liên vào phòng 303 bán dâm cho L, H phòng 302 bán dâm cho Đ còn Vân A phòng 203 bán dâm cho Đ. Tại phòng 203, Đ đƣa cho Vân A 1.200.000đ là số tiền của 03 ngƣời và thông báo cho L biết đã nhận đủ tiền. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, lực lƣợng Công an thị xã Dĩ An kiểm tra hành chính Nhà nghỉ N bắt giữ L, Vân A, H, Đ, Đ và L đang thực hiện hành vi mua bán dâm.
Đối với hành vi mua dâm của anh Lê Thanh Đ, Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Thắng L đã bị Cơ quan cảnh sát điều ta công an thị xã Dĩ An quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ.
Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Phƣơng L, Nguyễn Thị Vân A đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An xử phạt hành chính 200.000đ.
Đối với anh Phạm Chu Nguyên H là quản lý Nhà nghỉ N không biết hành vi mua bán dâm nên không đề nghị xử lý.
Vật chứng: Điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng có ốp lƣng màu vàng, sim số 01688.046.500; 03 bao cao su đã qua sử dụng; số tiền 1.200.000đ.
Tại Cáo trạng số 372/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phƣơng L về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ, khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng có ốp lƣng màu vàng và 1.200.000đ.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy sim số 01688.046.500 và 03 bao cao su đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội; tại phần nói lời sau cùng bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 19/9/2018, tại nhà nghỉ N ở đƣờng GS3, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Thị Phƣơng L đã có hành vi làm trung gian, thỏa thuận để cho Nguyễn Thị Vân A bán dâm cho anh Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thị H bán dâm cho anh Nguyễn Văn Đ, với giá 400.000đ/01 lần/01 khách. Trong lúc đang bán dâm thì bị lực lƣợng Công an thị xã Dĩ An kiểm tra hành chính, bắt quả tang.
Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Hình sự 2015:
“1. Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
.......................
đ) Đối với 02 người trở lên”.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Phƣơng L làm trung gia, dẫn dắt để Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Vân A bán dâm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” với tình tiết định khung “đối với 02 ngƣời trở lên” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự 2015. Cáo trạng số 372/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội, nếp sống văn minh, sức khỏe con ngƣời, ảnh hƣởng đến hạnh phúc của gia đình và còn là nguyên nhân làm lây truyền các bệnh xã hội và đặc biệt là bệnh HIV/AIDS. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời không có nghề nghiệp, chƣa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Xét điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng có ốp lƣng màu vàng, bị cáo dùng vào việc phạm tội và 1.200.000 đồng, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc. Đối với sim số 01688.046.500 và 03 bao cao su đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi mua dâm của anh Lê Thanh Đ, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thắng L đã bị Cơ quan cảnh sát điều ta công an thị xã Dĩ An quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ.
Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Phƣơng L, Nguyễn Thị Vân A đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An xử phạt hành chính 200.000đ.
Đối với anh Phạm Chu Nguyên H là quản lý Nhà nghỉ N không biết hành vi mua bán dâm tại Nhà nghỉ nên không đề nghị xử lý.
Mức đề nghị nhƣ đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phƣơng L (tên gọi khác: L1) phạm tội Môi giới mại dâm.
Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phƣơng L 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2018.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng có ốp lƣng màu vàng và 1.200.000 (một triệu hai trăm nghìn) đồng.
- Tịch thu tiêu hủy sim số 01688.046.500 và 03 bao cao su đã qua sử dụng.
(Biên bản giao nhận ngày 01/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Phƣơng L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (01); - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND xã P (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |