vanban.org

Bản án 350/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 31/07/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của Phạm Đình T và người bị hại Trương Văn T2 sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội: “Giết người”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/ /2020 đến ngày 03/9/2020 và từ ngày 31/8/2022 đến ngày 10/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của Phạm Đình T và người bị hại Trương Văn T2 sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 3 Bộ luật Tố t ng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 350/2024/HS-PT
Ngày: 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tồn

Các thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Nguyễn Chí Công

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng năm 2024, tại Tr sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, t ử phúc thẩm c ng khai v án hình sự th lý số 9 /2024/TLPT-HS ngày 0 tháng 02 năm 2024 đối v i bị cáo Phạm Đình T về tội

“Giết người”. Do c kháng cáo của bị cáo và bị hại đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo

Phạm Đình T, sinh ngày 13/02/1994 tại C, Khánh Hòa; nơi cư trú: th n T, ã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; t n giáo: Cao đài; văn h a: 12/12; nghề nghiệp: Kh ng; cha: Phạm Đình Q, sinh năm 19 0; mẹ: Trần Thị L, sinh năm 19 4; vợ: Trương Thu T1, sinh năm 199 ; c 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Kh ng;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 0 /4/2020 đến ngày 19/6/2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Đến ngày 31/8/2022 bị cáo bị bắt tạm giam đến ngày 10/10/2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. C mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Luật sư Hồ Ngọc N - Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K. Vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Vũ Thị A - C ng ty L3, Đoàn Luật sư tỉnh K. Địa chỉ: A H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

C mặt.

- Bị hại: anh Trương Văn T2, sinh năm 199 ; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 1 giờ ngày 04/4/2020, Hoàng Phi C, Nguyễn Quang B, Chuyên Phi C1, Phạm Đình T, Nguyễn Minh K, Dương Văn T3, Lê Đặng Quốc C2, Phan Anh T4, Hoàng Duy C3 ăn nhậu tại tiệm điện thoại của K ở ã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Hoàng Phi C rủ B đi đánh nh m thanh niên ở cây số C đường C thuộc phường C, thành phố C (viết tắt là cây số 3). B đồng ý và gọi điện thoại rủ Bùi Nhật T tham gia, còn Hoàng Phi C gọi điện thoại rủ Trần Dương Anh T6, Nguyễn Văn T tham gia.

Sau đ , Hoàng Phi C điều khiển e m t 49C1 – 0 8.12 chở B đến ngã ba V thuộc ã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa gặp T5 đang ngồi trên e m t 9H1 – 802. đợi sẵn. B uống e ở lại cùng T8 còn Hoàng Phi C tiếp t c điều khiển e đến nhà nghỉ A1 tại ã C, huyện C. Khi đến nhà nghỉ A1, Hoàng Phi C gặp T6 và Nguyễn Văn T đang đứng chờ, Hoàng Phi C chở T6 và Nguyễn Văn T đến ngã ba V để gặp B và T5.

Trong quá trình đợi Hoàng Phi C, B n i T5 đứng đợi và mượn e m t của T5 đi về nhà của Trần Quang P tại th n S, ã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa lấy 01 túi da màu đen, bên trong c chứa 03 viên đạn thể thao và 01 khẩu súng tự chế kiểu ru l đã lắp sẵn 06 viên đạn (B mua khẩu súng vào năm 201 tại thành phố Hồ Chí Minh), sau đ quay lại chỗ T5. Khi Hoàng Phi C chở T6, Nguyễn Văn T đến gặp B, T5. Hoàng Phi C cầm theo 02 khẩu súng tự chế kiểu ru l , C đưa cho T5 01 khẩu súng tự chế kiểu ru l c báng súng ốp gỗ đã lắp sẵn 06 viên đạn còn Hoàng Phi C cầm 01 khẩu súng tự chế kiểu ru l màu đen (Hoàng Phi C mua khẩu súng này vào khoảng tháng 3/2020 qua mạng Internet) để sử d ng.

Sau đ , T6 điều khiển e m t 49C1 – 0 8.12 chở Hoàng Phi Cường Nguyễn Văn T9 điều khiển e m t 9H1 – 802. chở T5, B1 đi đến khu vực cây ăng số C để tìm đánh nh m thanh niên. Khi đi qua cây ăng số C khoảng 0m, nh m của Hoàng Phi C dừng trư c một con hẻm. Hoàng Phi C, B, T5 mỗi người cầm 01 khẩu súng đi vào trong hẻm tìm sòng c đĩa của nh m thanh niên cây số 3 còn Nguyễn Văn T9 và T6 đứng ngoài e đợi. Hoàng Phi C, B, T5 đi vào trong hẻm khoảng 02 phút thì quay lại vì kh ng thấy ai. Nh m của Hoàng Phi C lên e đi thêm khoảng 10m thì dừng e trư c một con hẻm khác. Hoàng Phi C, B, T5 tiếp t c cầm súng đi vào trong hẻm, khoảng 03 phút sau thì quay lại vì kh ng thấy ai rồi cả nh m lên e tiếp t c đi tìm.

Khi nh m của Hoàng Phi C đi đến khu vực phía sau cây ăng số C thì gặp Nguyễn Hữu B2 và Nguyễn Mỹ D đang đi trên 02 e máy hư ng về phía sau cây ăng số 3. Hoàng Phi C nhận ra B2 là người trong nh m thanh niên ở khu vực cây ăng số C nên đã cầm khẩu súng hư ng về phía B2 bắn 01 phát, T5 cũng hư ng súng về phía B2 b p cò bắn nhưng đạn kh ng nổ. Nghe tiếng súng nổ, B2 điều khiển e tăng ga bỏ chạy, nh m của Hoàng Phi C đuổi theo khoảng 100m thì kh ng thấy B2 nên quay về.

Trên đường về, Hoàng Phi C gọi điện thoại cho C4 Phi Cường n i, em bị chuyện ở số 3 anh uống cùng đi đánh lại. Chuyên Phi C đang ở ã C, huyện C, sau khi nghe điện thoại Chuyên Phi C và rủ Phạm Đình T đi cùng. Sau khi điện thoại cho C5 Phi Cường thì nh m của Hoàng Phi C đi đến khu vực đường T, phường B, thành phố C để chờ Chuyên Phi Cường.

Lúc này tại C, Chuyên Phi C1 n i Phạm Đình T “anh em c chuyện ở dư i B, giờ em chở anh chạy uống”. Triều đồng ý và mượn e m t 9Z1 - 488.71 của Trần Quang P chở Chuyên P vào C. Khi đến khu vực đường T, Hoàng Phi C kể lại sự việc cho Chuyên Phi C1 nghe thì Nguyễn Văn T9 đi mua nư c uống về n i lại: T i n k o lên ngã ba Đ tìm mình. Hoàng Phi C n i đi tìm t i n . Tất cả đồng ý.

Nh m của Hoàng Phi C tiếp t c đi tìm nh m thanh niên ở khu vực cây ăng số C để đánh. Khi đi T6 điều khiển e m t 49C1 – 0 8.12 chở Hoàng Phi C; Nguyễn Văn T9 điều khiển e m t 9H1 – 802. chở B và T5; Phạm Đình T điều khiển xe mô tô 79Z1 – 488.71 chở Chuyên Phi C1. Trên đường đi Chuyên Phi C1 lấy khẩu súng tự chế kiểu ru l , c báng súng ốp nhựa màu nâu, đang cất giấu sẵn trong áo khoác ra cầm trên tay trái (Chuyên Phi C1 mua khẩu súng vào tháng 3/2020 tại Bình Dương).

Khi nh m của Hoàng Phi C đi ngang nhà của ng Phạm Đình T10 tại số A đường C T, phường C, thành phố C. Thấy B2 đang đứng ở trư c nhà cùng Đặng Quang Ú, Lê Q1, Trương Văn T2, Phạm Thị Bích T11 và Phạm Thị Phương T12 thì nh m của Hoàng Phi C quay e lại hư ng về phía ng i nhà. Thấy vậy, nh m của B2 chạy hết vào trong nhà và đ ng cửa sắt lại. Khi đến trư c nhà số A, Hoàng Phi C cầm khẩu súng l c hư ng vào phía cửa sắt tầng một ng i nhà bắn liên tiếp 03 phát; B cầm khẩu súng rulo tự chế hư ng vào phía cửa sắt tầng một ng i nhà bắn 01 phát, hư ng lên tầng hai ng i nhà bắn 02 phát thì c 01 phát bị kẹt đạn; T5 dùng khẩu súng rulo tự chế do Hoàng Phi C đưa hư ng vào cửa sắt tầng một ngồi nhà bắn 04 phát, trong đ c 02 phát nổ, 02 phát kh ng nổ; Chuyên Phi Cường hư ng súng lên trời bắn 02 phát; nh m của Hoàng Phi C chạy e đi qua ng i nhà rồi vòng lại, Hoàng Phi C tiếp t c bắn thêm 01 phát nữa về phía cửa sắt tầng 01 ng i nhà. Khi bắn vào nhà 1 6 thì Trương Văn T2 bị bắn trúng vùng trán (kh ng ác định được do ai bắn. Sau đ cả nh m bỏ đi đến trư c trường tiểu học B3, phường B, thành phố C thì dừng e lại sửa súng và tháo bỏ vỏ đạn. Tại đây, Chuyên Phi C1 đã đưa khẩu súng rulo tự chế vừa sử d ng cho B đem về nhà cất giấu. B nhận súng từ Chuyên Phi C1 và cất vào túi da màu đen của mình. Hoàng Phi C đem theo khẩu súng dạng súng l c về khách sạn Á ở đường D, phường C, thành phố C để ngủ. Chuyên Phi C, B, Nguyễn Văn T9 về ngủ lại tại nhà của Dương Hoàng L1 ở th n S, ã C, huyện C. Phạm Đình T và T5 đi về nhà ngủ. T5 đem theo khẩu súng rulo tự chế do Hoàng Phi C đã đưa về nhà cất giấu.

Khi về khách sạn Á, Hoàng Phi C đưa khẩu súng l c cho Đinh Đức D1 (là lễ tân khách sạn) nhờ D1 cất giấu. D1 bỏ khẩu súng mà C đưa vào túi nilong rồi cất giấu tại bồn hoa trư c khách sạn. Đến sáng ngày 0 /4/2020, Hoàng Phi C lấy lại khẩu súng từ D1 rồi bỏ trốn ra thị ã N. Vài ngày sau, T5 liên lạc v i Hoàng Phi C và đem theo khẩu súng rulo tự chế mà Hoàng Phi C đưa vào đêm ngày 04/4/2020 đến khu vực hồ Đ, thị ã N trả lại cho Hoàng Phi C. Hoàng Phi C sau đ đưa khẩu súng l c màu đen cho Chuyên Phi C1 cất giữ, còn mình đem theo khẩu súng rulo mà T5 đưa tiếp t c bỏ trốn ở nhiều nơi.

Ngày 0 /4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C tiến hành khám nghiệm hiện trường ghi nhận tại vị trí cửa sắt thứ 02 dư i nhà bị thủng 01 lỗ hình tròn đường kính 0, cm; cửa sắt thứ 03 dư i nhà bị thủng 01 lỗ, đường kính 0, cm và 01 vết lõm trên cửa sắt, kích thư c (3 4cm; trên tường bên phải của cửa sắt bị thủng 01 lỗ hình tròn, đường kính 1, cm, độ sâu 0, cm; 04 lon nư c yến bị thủng; tại tường phía ngoài ban c ng bị thủng 02 lỗ (trong đ , 01 lỗ thủng kích thư c 1, cm 1, cm; 01 lỗ thủng kích thư c (1, cm 01cm); tại mặt phía dư i ban c ng tầng lầu c 01 vết thủng, kích thư c (2, 1, cm. Thu giữ: 03 vỏ đạn do Phạm Thị Bích T11 giao nộp và 01 vỏ đạn thu giữ trư c nhà số H đường C; 02 mảnh kim loại màu ám; 01 viên cao su hình cầu, màu đen.

Ngày 0 /4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C phát hiện, thu giữ của B 01 khẩu súng rulo tự chế, báng súng sơn màu nâu anh, bên trong c 0 viên đạn thể thao được cất giữ trong e m t 9Z1 – 520.67 của Phạm Đình T. Tiến hành khám t tại nhà Trần Quang P, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C phát hiện, thu giữ của B 03 viên đạn và 04 vỏ đạn.

Ngày 10/4/2020, Phan Thị Bích T13 trong lúc dọn nhà phát hiện 01 viên kim loại hình cầu, màu hồng nên giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C.

Ngày 13/4/2020, Trần Ngọc T14 nhặt được 01 vỏ đạn bên lề đường đối diện nhà số A đường C T, phường C, thành phố C và đem giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C.

Ngày 14/4/2020, thu giữ 01 dị vật hình tròn, màu vàng đường kính 0 mm ở vùng trán của Trương Văn T2;

Ngày 14/4/2020, Lê Thái H phát hiện 01 túi đeo ch o bên trong c 01 khẩu súng, 0 viên đạn và 08 vỏ đạn do B mang đến cất giấu tại khu vực bếp nhà H ngày 06/4/2020 nên giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C.

Đến ngày 06/10/2020, Hoàng Phi C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an tỉnh K bắt truy nã, thu giữ 01 khẩu súng rulo tự chế, báng súng ốp gỗ (khẩu súng đã đưa cho T5 sử d ng vào đêm ngày 04/4/2020), 03 viên đạn và 01 vỏ đạn.

Còn Chuyên Phi C1 sau khi phạm tội đã đem khẩu súng l c màu đen nhận của Hoàng Phi C đến thành phố P, tỉnh Bình Thuận, cất giấu vào một cái hộp nhờ Võ Ngọc T1 (trú tại th n D ã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận) cất giữ cho đến ngày 08/01/2021, Chuyên Phi C1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C bắt truy nã và thu giữ 09 viên đạn. Sau khi bị bắt, Chuyên Phi C1 đã khai báo về việc nhờ T15 cất giữ khẩu súng l c v i Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C.

Ngày 09/01/2021, bà Phạm Thị Nhị M (dì của Chuyên Phi C1) giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C một chiếc hộp bên trong c 01 khẩu súng l c nhãn hiệu RLOW MINI9 B09Y3-18100 23 và cho biết vào sáng ngày 09/01/2021, c một người thanh niên (kh ng rõ lai lịch) đến gặp và nhờ bà M gửi chiếc hộp trên cho Cơ quan c ng Số bút l c 292- an. Hoàng Phi C ác nhận khẩu súng l c nêu trên mà Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C thu giữ là khẩu súng mà mình sử d ng vào đêm ngày 04/4/2020. Chuyên Ph C6 ác nhận khẩu súng l c mà Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố C thu giữ là khẩu súng mà Hoàng Phi C đưa cho mình cất giữ và sau đ Chuyên Phi C1 đưa cho Võ Ngọc T15 cất giữ tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Đối v i 03 vỏ đạn do Phạm Thị Bích T11 giao nộp; 01 vỏ đạn trư c nhà số H đường C và 02 mảnh kim loại màu ám; 01 viên cao su hình cầu, màu đen thu giữ tại hiện trường ngày 0 /4/2020, Phòng K1 C ng an tỉnh K (số 20 ngày 07/4/2020):

1. 03 vỏ đạn do Phạm Thị Bích T11 giao nộp và 01 vỏ đạn thu giữ trư c nhà số H đường 3 Tháng 4 là vỏ của loại đạn cao su cỡ (9 22)mm. Loại đạn này, c thể được bắn bằng loại súng c ng c hỗ trợ cỡ n ng 9mm c cấu tạo phù hợp.

2. 02 mảnh kim loại màu ám là đầu đạn của loại đạn thể thao cỡ ( 6 1 ,6)mm; loại đạn này c thể được bắn bằng loại súng thể thao cỡ nòng ,6mm và súng tự chế c cấu tạo phù hợp.

3. Viên cao su hình cầu, màu đen là đầu đạn của loại đạn cao su cỡ 09mm; loại đạn này c thể được bắn bằng loại súng c ng c hỗ trợ cỡ nòng 9mm c cấu tạo phù hợp. (Bút l c số 84).

Đối v i 01 khẩu súng bên trong ổ oay chứa 0 viên đạn giống nhau; 03 viên đạn, 04 vỏ đạn thu giữ của Nguyễn Quang B ngày 0 /4/2020 và 02 đầu đạn thu giữ tại hiện trường ngày 0 /4/2020, Phòng K1 C ng an tỉnh K (số 213 ngày 17/4/2020):

1. Khẩu súng gửi giám định kh ng nằm trong danh m c vũ khí quân d ng, nhưng c tính năng tác d ng tương tự súng quân d ng. 08 viên đạn gửi giám định là loại đạn thể thao cỡ ( ,6 1 ,6)mm, kh ng phải đạn quân d ng, loại đạn này sử d ng được cho các loại súng thể thao cỡ nòng ,6mm (súng trường Toz8) và khẩu súng gửi giám định.

2. 04 vỏ đạn gửi giám định là vỏ của loại đạn thể thao cỡ ( ,6 1 ,6)mm, kh ng phải đạn quân d ng. 02/04 vỏ đạn trên do khẩu súng gửi giám định bắn ra.

3. 02 đầu đạn thu giữ ngày 0 /4/2020, tại hiện trường v trên là loại đầu đạn thể thao cỡ ,6mm; đã bị biến dạng, kh ng c đủ đặc điểm làm cơ sở để giám định truy nguyên súng bắn ra.

Đối v i 01 viên kim loại hình cầu, màu hồng do Phan Thị Bích T13 giao nộp ngày 10/4/2020, Phòng K1 C ng an tỉnh K (số 614 ngày 13/10/2020):

- Viên kim loại gửi giám định là đạn của loại súng bắn bằng khí n n, thuộc loại đồ chơi nguy hiểm, kh ng phải đạn quân d ng; hoặc c thể dùng làm đầu đạn của loại đạn tự chế (c vỏ là vỏ đạn thể thao cỡ ( ,6 1 ,6)mm hoặc vỏ đạn c ng c hỗ trợ cỡ (9 22)mm...), c thể bắn được bằng súng thể thao, súng c ng c hỗ trợ và súng tự chế c cấu tạo cùng cỡ nòng phù hợp.

Đối v i 01 vỏ đạn bằng đồng do Trần Ngọc T14 giao nộp ngày 13/4/2020; 01 dị vật hình tròn, màu vàng đường kính 0 mm thu tại vùng trán của Trương Văn T2; 01 khẩu súng, 0 viên đạn, 08 vỏ đạn do Lê Thái H giao nộp, Phòng K1 C ng an tỉnh K (số 222 ngày 18/ /2020):

1. Khẩu súng gửi giám định kh ng nằm trong danh m c vũ khí quân d ng, nhưng c tính năng tác d ng tương tự súng quân d ng. 0 viên đạn gửi giám định là loại đạn thể thao cỡ ( ,6 1 ,6)mm, kh ng phải đạn quân d ng, loại đạn này sử d ng được cho các loại súng thể thao cỡ nòng ,6mm (súng trường Toz8), súng tự chế và khẩu súng gửi giám định.

2. 09 vỏ đạn gửi giám định gồm: vỏ ký hiệu OZK-9mm PA là vỏ của loại đạn cỡ (9 22)mm sử d ng cho súng c ng c hỗ trợ và súng tự chế c cấu tạo phù hợp, kh ng phải đạn quân d ng; 4 vỏ đạn (02 viên ký hiệu chữ “C” và 02 viên ký hiệu “S&B”) là vỏ của loại đạn thể thao cỡ ( ,6 1 ,6)mm, kh ng phải đạn quân d ng, 04 vỏ đạn này do khẩu súng gửi giám định bắn ra.

3. Dị vật hình cầu, đường kính 0 mm bằng kim loại lấy ra từ trán trái của Trương Văn T2 (đã bị biến dạng một phần): nguyên bản c thể sử d ng làm đạn cho loại súng bắn bằng khí n n; hoạch c thể sử d ng như đầu đạn của loại đạn thể thao cỡ ,6 1 ,6mm và bắn được bằng loại súng c cấu tạo cùng cỡ nòng phù hợp. Tại thời điểm giám định, phát hiện sự tồn tại của thành phần thuốc nổ trên bề mặt của dị vật trên.

Đối v i 01 khẩu súng, 03 viên đạn, 01 vỏ đạn thu giữ của Hoàng Phi C ngày 06/10/2020, Phòng K1 C ng an tỉnh K (số 622 ngày 22/10/2020): 1. Khẩu súng trên: là súng tự chế, kh ng nằm trong danh m c vũ khí quân d ng nhưng c tính năng, tác d ng tương tự súng quân d ng. 03 viên đạn là loại đạn thể thao cỡ ( ,6 1 ,6)mm, kh ng phải đạn quân d ng, sử d ng được cho khẩu súng gửi giám định, các loại súng thể thao như: TOZ8, K%% …và các loại súng khác c cấu tạo cùng cỡ nòng phù hợp. 01 vỏ đạn thu được của Hoàng Phi C là vỏ đạn thể thao cỡ ( ,6 1 ,6)mm kh ng phải vũ khí quân d ng. Vỏ đạn này là do khẩu súng gửi giám định bắn ra.

2. Khẩu súng gửi giám định kh ng bắn ra: 04 vỏ đạn thu được tại hiện trường, 01 vỏ đạn anh Trần Ngọc T14 giao nộp, 08 vỏ đạn anh Lê Thái H giao nộp, 04 vỏ đạn thu được tại nơi ở của Nguyễn Quang B.

Đối v i 09 viên đạn thu giữ của Chuyên Phi Cường ngày 08/01/2021 và 01 khẩu súng do bà Phạm Thị Nhị M giao nộp ngày 09/01/2021, Phòng K1 C ng an tỉnh K (số 139 ngày 09/02/2021):

1. Khẩu súng gửi giám định: là súng c ng c hỗ trợ, kh ng phải vũ khí quân d ng và kh ng c tính năng, tác d ng tương tự vũ khí quân d ng; tại thời điểm giám định, súng kh ng lắp vừa và kh ng bắn được đạn c ng c hỗ trợ cỡ (9 22)mm và đạn cỡ ( ,6 1 ,6)mm. 09 viên đạn gửi giám định: là loại đạn thể thao cỡ ( ,6 1 ,6)mm, kh ng phải vũ khí quân d ng và kh ng c tính năng, tác d ng tương tự vũ khí quân d ng, thường sử d ng cho súng thể thao cỡ nòng ,6mm như TOZ8, K , súng tự chế c cấu tạo và cỡ nòng phù hợp; kh ng sử d ng được cho khẩu súng gửi giám định.

2. Khẩu súng gửi giám định kh ng bắn ra: 01 vỏ đạn thu của Hoàng Phi C ngày 06/10/2020 (Kết luận giám định số 622 ngày 22/10/2020), 04 vỏ đạn thu tại hiện trường, 01 vỏ đạn anh T14 giao nộp ngày 13/4/2020, 08 vỏ đạn anh H giao nộp ngày 14/4/2020 (Kết luận giám định số 222 ngày 18/ /2020) và 04 vỏ đạn thu tại nơi ở của B ngày 0 /4/2020 (Kết luận giám định số 213 ngày 17/4/2020).

3. Các dấu vết uất hiện trên 01 viên đạn kim loại hình cầu, màu hồng do chị Phạm Thị Bích T11 giao nộp ngày 10/4/2020, kh ng c đủ đặc điểm để giám định truy nguyên súng bắn ra. (Bút l c số 100a, 100b). Tại Kết luận giám định số 280 ngày 1 / /2021 của Phòng K1 C ng an tỉnh K kết luận:

- Tại thời điểm giám định, các dấu vết uất hiện trên dị vật hình cầu bằng kim loại màu vàng, đường kính 0 mm và trên viên đạn cao su hình cầu màu đen, gửi giám định kh ng c đủ đặc điểm để giám định truy nguyên súng bắn ra. Do đ , kh ng dủ cơ sở để kết luận các mẫu vật trên c phải do các khẩu súng mẫu so sánh. bắn ra hay kh ng (Bút l c số 460).

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 111 ngày 14/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: Vùng trán trái c 01 vết thương kích thư c 1. cm 0.2cm. Trên phim CT Scanner ngày 04/4/2020 thấy hình ảnh dị vật cản quang m mềm vùng trán trái. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trương Văn T2 là 01%. (Bút l c số 636 đến 638).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

Căn cứ điểm n, l khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 1; Điều 4 Điều của Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình T 0 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/ /2020 đến ngày 03/9/2020 và từ ngày 31/8/2022 đến ngày 10/10/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm hình sự đối v i các bị cáo khác trong v án, phần trách nhiệm dân sự, ử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 0 /12/2023, bị cáo Phạm Đình T c đơn kháng cáo v i nội dung in giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 08/12/2023 bị hại Trương Văn T2 c đơn kháng cáo v i nội dung in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Đình T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về nội dung: Tại phiên tòa h m nay, Bị cáo, bị hại cung cấp tài liệu m i khắc ph c thêm triệu, mặc dù c nhiều tình tiết m i, bị cáo giữ vai trò thứ yếu nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã t ử bị cáo Phạm Đình T về tội “ Giết người” theo điểm n, l khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và ử phạt bị cáo mức án 0 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là đúng. Do đ , đề nghị Hội đồng t ử áp d ng điểm a khoản 1 Điều 3 và Điều 3 6 BLTTHS kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Đình T và người bị hại Trương Văn T2 giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa bị cáo Phạm Đình T thừa nhận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/4/2020, tại khu vực trư c nhà ng phạm Đình T16 ở số A đường C tháng 4 thuộc tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Phạm Đình T đi e máy chở theo Chuyên Phi C1 và cùng Hoàng Phi C, Nguyễn Quang B, Bùi Nhật T , Nguyễn Văn T9, Trần Dương Anh T6, Phạm Đình T đã sử d ng 04 khẩu súng bắn nhiều phát vào nhà số A đường C tháng 4 thuộc tổ dân phố T, phường C, thành phố C, trong đ c 01 phát trúng vào vùng trán của anh Trương Văn T2 gây thương tích v i tỷ lệ 01%. V i hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 101/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của

Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã t ử bị cáo Phạm Đình T về tội

“Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. X t kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Đình T và người bị hại Trương Văn T2 thì thấy:

Từ khoảng 19 giờ ngày 04/4/2020 tại khu vực phía sau cây ăng số 3 trên đường 3 tháng 4 thuộc phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Phạm Đình T kh ng biết và kh ng tham gia đánh nhau v i nh m B2.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày 04/4/2020, tại khu vực trư c nhà ng Phạm Đình T10 ở số A đường C tháng 4 thuộc tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa thì Chuyên Phi C1 n i Phạm Đình T chở đi và cùng cả nh m đi tìm đánh nh m thanh niên trên. Mặt dù, lúc đầu bị cáo Chuyên Phi C1 (G) kh ng n i c thể v i bị cáo Phạm Đình T về việc nhờ T chở C1 uống B,

Cam R để đánh nh m của B2, nhưng khi đi đến điểm các bị cáo hẹn gặp nhau tại tỉnh lộ 9, bị cáo Phạm Đình T đã biết là đi đánh nhau, nhưng kh ng kh ng phản đối hoặc báo cáo cơ quan chức năng mà tiếp t c chở bị cáo Chuyên Phi C1 cùng các bị cáo khác đi tìm đánh nh m thanh niên ở cây ăng số 3 là đồng phạm về tội giết người v i vai trò giúp sức.

X t thấy: Tòa cấp sơ thẩm ử phạt bị cáo mức án 0 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là đúng, tuy nhiên Phạm Đình T chỉ dùng e m t chở Chuyên Phi C1 tham gia giai đoạn hai. Vì vậy; hậu quả anh Trương Văn T2 bị thương tích v i tỷ lệ 01% bị cáo đồng phạm v i vai trò giúp sức.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phạm Đình T khai nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng kh ng phạm tội“Giết người”vì bị cáo kh ng biết là đi đánh nhau. Tại phiên tòa phúc thẩm sau khi giải thích bị cáo nhận tội, bị hại nhận thêm .000.000đ (năm triệu) tiền bồi thường và in giảm nhẹ cho bị cáo. X t thấy; vai trò của bị cáo T chỉ là thứ yếu nên cần phân h a hành vi và cá thể h a hình phạt cho tương ứng mức độ phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm c thêm tình tiết m i quy định tại khoản 2 điều 1 BLHS nên HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Đình T và người bị hại Trương Văn T2, giảm nhẹ cho bị cáo một phần phạt.

Các phần khác của bản án sơ thẩm kh ng c kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật.

Bị cáo kh ng phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3 và điểm c khoản 1 Điều 3 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của Phạm Đình T và người bị hại Trương Văn T2 sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội: “Giết người”.

-Căn cứ điểm n, l khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 1; Điều 4 Điều của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/ /2020 đến ngày 03/9/2020 và từ ngày 31/8/2022 đến ngày 10/10/2022.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Đình T kh ng phải nộp.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm kh ng c kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ