vanban.org

Bản án 350/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ C n cứ điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự n m 2 1 s a đổi, bổ sung n m 2 1 ; điểm h, s, hoản 1 hoản 2 Điều 1; Điều 4; Điều 8; Điều 1 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , được s a đổi bổ sung n m 2 1 :

X phạt: bị cáo Bùi Hữu L: 1. . . (Một tỉ n m tr m triệu) đ ng về tội “Buôn lậu”, để sung vào Ngân sách Nhà nước. C n cứ hoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố t ng h nh sự n m 2 1 : X t bị cáo bị Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI HỮU LỘC VÀ ĐỒNG PHẠM - phạm tội buôn lậu (điều 188 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ C n cứ điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự n m 2 1 s a đổi, bổ sung n m 2 1 ; điểm h, s, hoản 1 hoản 2 Điều 1; Điều 4; Điều 8; Điều 1 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , được s a đổi bổ sung n m 2 1 :
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 350/2023/HSST
Ngày: 25/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Quang Việt.

2. Bà Trần Thị Như Phương.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 2 tháng n m 2 23 tại tr s T a án nhân dân Thành phố H Ch Minh m phiên t a t sơ th m công hai v án h nh sự sơ th m th lý số 803/2022/HSSTngày 19/10/2022 theo Quyết định đưa v án ra t

số 2 9 /2 23/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 n m 2 23 và Thông báo thay đổi thời gian m phiên t a số 9394/TB-TA ngày 1 / /2 23 đối với:

- Các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Hữu L, sinh n m 19 2; tại Nghệ An; thường trú: 11818 M, T, USA; nghề nghiệp: hông; tr nh độ v n hóa: đại học; dân tộc: inh; giới t nh: nam; tôn giáo: hông; quốc tịch: Hoa Kỳ; con ông Bùi Hữu P và bà Nguyễn Thủy T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: hông; tạm giam: 1 / 2/2 2 “có mặt”.

2. Họ và tên: Phan Tấn P1, sinh n m 1982; tại Khánh H a; thường trú: 8 V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh H a; nghề nghiệp: buôn bán; tr nh độ v n hóa: 12/12; dân tộc: inh; giới t nh: nam; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan V n H và bà Huỳnh Thị R; có vợ và 2 con sinh n m 2 14, n m 2 18; tiền án, tiền sự: hông; tạm giam từ ngày 1 / 2/2 2 “có mặt”.

3. Họ và tên: Huỳnh Thị Bích T1, sinh n m 1984; tại Đ ng Nai; hường trú: B L, Phường E, quận G, Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: inh doanh tự do; tr nh độ v n hóa: 12/12; dân tộc: inh; giới t nh: nữ; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Quang M và bà Nguyễn Thị L1; chưa có ch ng con; tiền án, tiền sự: hông; bị tạm giam từ ngày 1 / 2/2 2 đến ngày 12/6/2 2 được thay thế Biện pháp ng n chặn “Cấm đi hỏi nơi cư trú” “có mặt”.

4. Họ và tên: Nguyễn Trung H1, sinh n m 198 ; tại Hà Nội; thường trú: Phòng 19.05 Tòa nhà A - Chung cư Đ, đường A, phường P, Quận G, Thành phố H Chí Minh; nghề nghiệp: Công chức Hải quan; tr nh độ v n hóa: đại học; dân tộc: inh; giới t nh: nam; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh T2 và bà Lê Thị N; có vợ và 1 con sinh n m 2 1 ; tiền án, tiền sự: hông; bị cáo bị áp d ng biện pháp ng n chặn “Cấm đi hỏi nơi cư trú” “có mặt”.

. Họ và tên: Nguyễn Thị Kim L2, sinh n m 1988; tại Bến Tre; thường trú: C .11 Chung cư Bộ C4 – 83 đường số C, phường B (nay là phường A), Thành phố T, Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Công chức Hải quan; tr nh độ v n hóa: đại học; dân tộc: inh; giới t nh: nữ; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V n L3 và bà H Thị C; có ch ng và 1 con sinh n m 2 1 ; tiền án, tiền sự: hông; bị cáo bị áp d ng biện pháp ng n chặn “Cấm đi hỏi nơi cư trú” “có mặt”.

- Người định giá: Hội đ ng định giá tài sản thường uyên trong tố t ng h nh sự cấp Thành phố. Tr s : A N, Phường V, Quận C, Thành phố H Ch Minh “vắng mặt”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Hữu C1 – sinh n m 19 2.

Địa chỉ: 1 D, Phường B, Quận H, Thành phố H Ch Minh “vắng mặt”.

2/ Ông Lê Mạnh C2 – sinh n m 199 .

Địa chỉ: A3.32 L, chung cư K, đường D, Tổ G Q, Phường A, quận G, Thành phố H Ch Minh “vắng mặt”.

3/ Ông Nguyễn Thanh H2- sinh n m 19 4.

Địa chỉ: I N, Phường C, quận G, Thành phố H Ch Minh “vắng mặt”.

- Người bào chữa:

+ Ông Nguyễn V n Q, Bà Lê Thị B ch H3 – Luật sư, Công ty L5, Đoàn Luật sư Thành phố H, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Kim L2 “có mặt”.

+ Bà Trần Thị H ng V – Luật sư, V n ph ng LS Trần Thị H ng V và Cộng sự, Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa cho, bị cáo Bùi Hữu L, bị cáo Huỳnh Thị Bích T1 và bị cáo Phan Tấn P1 “có mặt”.

+ Ông Nguyễn Minh C3 – Luật sư, V n ph ng Luật sư Nguyễn Minh C3 bào chữa cho bị cáo Phan Tấn P1 “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Lúc 1 giờ 4 phút ngày 1 / 2/2 2 , Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Thành phố H phát hiện các đối tượng: Huỳnh B ch T1, Phan Tấn P1 đang có hành vi vận chuyển 8 iện hàng ra hỏi hu vực iểm soát Hải quan và chu n bị đưa lên xe ta i. Cùng thời điểm, Cơ quan điều tra cũng phát hiện Bùi Hữu L cũng đang vi vận chuyện 4 iện hàng (nghi vấn là hàng nhập h u) đi ph a sau nên tiến hành mời làm việc và iểm tra toàn bộ 12 thùng hàng nêu trên. Kết quả iểm tra phát hiện bên trong 12 iện hàng chứa 2 máy t nh laptop và 3 điện thoại di động hiệu Iphone (tất cả đều đã qua s d ng). Tất cả hàng hóa đều hông có hóa đơn, chứng từ chứng minh ngu n gốc, hông hai báo Hải quan. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Thành phố H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ đ vật nêu trên để lý theo quy định.

Kết quả điều tra ác định: Ngày 1 / 2/2 2 , Bùi Hữu L từ Mỹ mang theo 12 iện hàng hóa (gồm: 207 máy tính xách tay các loại và 03 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, đều là hàng hoá đã qua sử dụng) từ Mỹ về Việt Nam theo lộ tr nh: từ sân G, thành phố H, bang T, Mỹ đến sân bay N, thành phố T, Nhật Bản. Sau đó, chuyển tiếp chuyến bay NH833 đi ngày 16/ 2/2 2 , lúc 19 giờ phút từ sân bay N, thành phố T, Nhật Bản đến sân bay T, thành phố H Ch Minh. Trước hi về Việt Nam, L đã điện thoại thông báo cho Huỳnh Thị B ch T1 về việc mang hàng hóa để T1 biết và tổ chức đón, hỗ trợ vận chuyển hàng hóa ra hỏi hu vực iểm soát Hải quan, vào lãnh thổ Việt Nam. Theo thỏa thuận với Bùi Hữu L, T1 chủ động liên hệ với Nguyễn Hữu C1 (C1 có đặt mua một số máy t nh, được L vận chuyển về chung trong đợt hàng trên) và Phan Tấn P1 hẹn cùng nhau đón, giúp L đưa hàng hóa vào Việt Nam tại sân bay quốc tế T.

Khoảng giờ, ngày 1 / 2/2 2 , sau hi gặp nhau tại hu vực ga quốc tế đến thuộc sân bay quốc tế T, T1, P1 vào hu vực đảo hành lý để giúp L vận chuyển hàng hóa, còn C1 đi mua nước uống bên ngoài. Theo đó, T1 và P1 đã liên hệ với nhân viên an ninh tên Lê Mạnh C2 và được cho ph p vào hu vực hạn chế trong sân bay để đón L.

Lúc 1 giờ 4 phút, ngày 1 / 2/2 2 , hi chuyến bay NH833 hạ cánh tại sân bay quốc tế T, toàn bộ 12 iện hàng được đưa vào hầm máy soi số 3, để ra đảo hành lý số 3. Tại đây, L cùng T1, P1 bốc dỡ 12 iện hàng lên 3 e đ y hành lý, vận chuyển ra hỏi hu vực iểm soát Hải quan để vào lãnh thổ Việt Nam theo lối đi bên hông máy soi hành lý số , hông thực hiện hai báo Hải quan, hông đưa hành lý qua máy soi. Hành vi sai phạm của các đối tượng đã bị tổ công tác Ph ng Cảnh sát inh tế phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ hàng hóa. Trong đó, P1 vận chuyển 4 iện hàng từ iện số 1 đến số D, T1 vận chuyển 4 iện hàng từ iện số đến số H, L vận chuyển 4 iện hàng từ iện số 9 đến số 12.

Chứng thư giám định số 2 G GHN 292- 1, ngày 12/3/2 2 của Công ty TNHH G ết luận: Toàn bộ 2 chiếc máy t nh ách tay và 3 chiếc điện thoại di động là hàng hoá đã qua s d ng;

Kết luận định giá tài sản số 9 ngày 1 /12/2 2 và Kết luận định giá bổ sung tài sản số 394 ngày 21/ 1/2 21 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố t ng h nh sự thành phố H Ch Minh ết luận: Tổng trị giá lô hàng là 3.214. 33.333đ, trong đó: Trị giá hàng hóa vi phạm chứa trong 4 thùng nhựa từ thùng số 1 đến thùng số 4 (chứa máy t nh ách tay) là 1.2 8.2 . đ; Trị giá hàng hóa vị phạm chứa trong 4 thùng nhựa từ thùng số đến thùng số 8 (chứa 3 máy t nh ách tay) là 949.433.333đ; Trị giá hàng hóa vi phạm chứa trong 4 thùng nhựa từ thùng số 9 đến thùng số 12 (chứa 9 máy t nh ách tay và 3 điện thoại di dộng) là 1. .1 . đ. Tại công v n số 6126/HĐĐGTS-QLG ngày 9/9/2 22, Hội đ ng định giá tài sản thường uyên trong tố t ng h nh sự cấp thành phố số tiền thuế GTGT của lô hàng theo Kết luận định giá tài sản số 9 /KL-HĐ ĐGTS ngày 1 /12/2 2 và Kết luận định giá tài sản số 394/KL-HĐ ĐGTS ngày 21/ 1/2 21 như sau: 3.214. 33. đ ng 1 % = 321.4 3.3 đ ng.

Kết quả ác minh tại Chi c c Hải quan c a h u sân bay quốc tế T4: Tại thời điểm các đối tượng thực hiện hành vi sai phạm, hu vực hầm máy soi số 3, thuộc ca trực của hai cán bộ Hải quan là Nguyễn Hoàng H4 và Phạm Lê Bảo U; hu vực máy soi hành lý số thuộc ca trực của hai cán bộ Hải quan là Nguyễn Trung H1 và Nguyễn Thị Kim L2. Khi 12 iện hàng hóa được đưa qua hầm máy soi số 3 để ra đảo hành lý, Hoàng H4 và U đã hông có mặt tại hu vực soi chiếu, tự ý rời vị tr trực để nghỉ ngơi tại ph ng nghỉ của đơn vị. Riêng Trung H1 và L2 có mặt và quan sát được việc T1, P1 đ y 8 iện hàng, trên 2 e đ y hành lý, qua lối đi bên hông máy soi số , nhưng hông tổ chức iểm tra theo nhiệm v được phân công (máy soi số E thuộc c a đỏ, bắt buộc iểm tra bằng h nh thức soi chiếu toàn bộ hành lý, hàng hoá mang theo của hành hách nhập cảnh từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam). Ph trách toàn bộ ca trực Hải quan vào thời điểm nêu trên là cán bộ Nguyễn Thanh H2 – Phó Đội trư ng Đội thủ t c hành lý nhập h u. Toàn bộ hàng hoá vi phạm đều là hàng cấm nhập h u, nên hông thuộc diện chịu thuế, v vậy, Cơ quan hải quan đã từ chối ác định thuế suất nhập h u, thuế GTGT vi phạm theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.

- Kết quả ác minh tại V n phòng bán vé Hãng hàng không A., L4 tại Việt Nam: Bùi Hữu L, quốc tịch Mỹ, thông tin v : 2 -241 324 83, mang theo 12 iện hành lý ý g i, đi từ Mỹ về Việt Nam theo lộ tr nh như sau: Chuyến bay NH1 3 ngày 1 / 2/2 2 , lúc 1 giờ 1 phút từ sân bay G, thành phố H, bang T, Mỹ đến sân bay N, Thành phố T, Nhật Bản. Sau đó, tiếp chuyến bay NH833 đi ngày 16/ 2/2 2 , lúc 19 giờ phút từ sân bay N, Thành phố T, Nhật Bản đến sân bay T, Thành phố H Ch Minh.

- Kết quả ác minh tại Cảng v hàng hông miền N - C c H : C n cứ nghị định số 92/2 1 /NĐ-CP ngày 13/1 /2 1 của Ch nh Phủ về Anh N1 hàng không; Thông tư 13/2 19/TT-BGTVT (TT13) ngày 29/3/2019 của Bộ G1 quy định: Khu vực giao nhận hành lý cho hành hách tại ga đến quốc tế Cảng hàng hông quốc tế T là hu vực hạn chế, chịu sự iểm tra, giám sát của lực lượng iểm soát an ninh hàng hông. Người, phương tiện hi ra, vào và hoạt động tại hu vực hạn chế phải có thẻ, giấy ph p iểm soát an ninh hàng hông được ph p ra, vào hu vực đó. Qua iểm tra dữ liệu trên hệ thống, Cảng v hàng hông miền N2 hông cấp thẻ iểm soát an ninh hàng không cho Huỳnh Thị B ch T1 và Phan Tấn P1. Do đó, việc 2 đối tượng trên vào hu vực nhận hành lý cho hành hách tại ga đến quốc tế Cảng hàng hông quốc tế T là hông đúng quy định tại Khoản 1 Điều 32 TT13.

- Kết quả ác minh và thu giữ dữ liệu camera lưu trữ tại Chi c c Hải quan c a h u sân bay quốc tế T4 và Cảng v hàng hông miền N phù hợp với ết quả điều tra nêu trên.

- Kết quả tra cứu thông tin uất, nhập cảnh của Bùi Hữu L: Bùi Hữu L đã làm thủ t c nhập uất cảnh ra vào Việt Nam tổng cộng 3 lượt. Lần gần nhất, L s d ng hộ chiếu số 643 6 331 nhập cảnh ngày 1 / 2/2 2 qua c a h u sân bay quốc tế T4 và bị bắt quả tang như nội dung nêu trên.

Bị can Bùi Hữu L hai: 12 iện hành lý Cơ quan Điều tra thu giữ là của L mang theo từ sân bay B thuộc bang T, Mỹ về sân bay T Việt Nam trên chuyến bay của Hãng hàng không A1. Khoảng 1 giờ ngày 1 / 2/2 2 máy bay đáp uống sân bay quốc tế T. Theo liên lạc từ trước giữa L và Huỳnh Thị B ch T1, khi L uống sân bay thì T1 s đến hu vực b ng chuyền hành lý nhập để cùng nhận và vận chuyển hành lý qua cổng iểm soát hải quan vào Việt Nam. Khi gặp T1 và P1, L lấy 8 iện hàng giao cho T1 và P1 để đưa ra trước nhưng hông hai báo hải quan, c n L tiếp t c đợi nhận 4 iện hàng c n lại để đưa ra sau. Khi Huỳnh Thị Bích T1 cùng với Phan Tấn P1 đ y 2 e đ y chứa 8 iện hàng trên ra hỏi c a ra A1 của sân bay T th bị phát hiện, iểm tra và tạm giữ toàn bộ hàng hoá vi phạm, L bị tạm giữ ngay sau đó. Toàn bộ số hàng hoá vi phạm nêu trên được L thu mua tại Mỹ, hoặc nhận vận chuyển thuê cho một số cá nhân để hư ng tiền công, đóng vào 12 iện hàng đưa về Việt Nam. Hàng hóa bị thu giữ hông có hóa đơn, chứng từ, hông hai báo Hải quan. L biết r máy t nh ách tay và điện thoại di động đã qua s d ng là mặt hàng cấm nhập h u vào Việt Nam nhưng v n cố ý nhập lậu lô hàng nêu trên nhằm hư ng lợi bất ch nh cho cá nhân.

Huỳnh Thị B ch T1, Phan Tấn P1 cùng thừa nhận hành vi sai phạm như nêu trên. T1 và P1 cho biết sau hi L uống sân bay, liên lạc với T1, cả hai đã vào cổng an ninh A1 để in an ninh hàng hông vào hu vực chờ nhận hàng lý cùng với L và được đ ng ý.

Nguyễn Hữu C1 hai: Khoảng giờ ngày 1 / 2/2 2 , C1 cùng P1 đi e ta i đến sân bay quốc tế T để đón Bùi Hữu L từ Mỹ về Việt Nam. Trước đó, C1 có đặt mua laptop cũ của Bùi Hữu L và Huỳnh Thị B ch T1. Cương thỏa thuận mua 1 cái laptop đã qua s d ng được L và T1 báo giá hoảng 2.4 USD và 3 cái laptop hác chưa iểm tra chất lượng, chưa được báo giá, hi nào giao hàng, iểm tra chất lượng hàng hóa đảm bảo th mới đưa tiền. Tại thời điểm T1, P1 vào nhận hàng cho L, C1 đang đi mua nước uống, hông biết việc này. Sau hi T1, P1 đ y hàng qua cổng A1 (đã ra hỏi qua hu vực iểm sát hải quan) th C1 giúp T1, P1 đ y e có thùng hàng ra đón ta i, lúc này bị Cơ quan Công an iểm tra và tạm giữ toàn bộ lô hàng nêu trên.

Lê Mạnh C2 – nhân viên an ninh hàng hông thuộc Cảng hàng hông Quốc tế T (người đã giải quyết cho Huỳnh Thị Bích T1 và Phan Tấn P1 vào khu vực chờ nhận hành lý cho hành khách tại ga đến quốc tế), hai: Vào hoảng thời gian 1 giờ phút, ngày 1 / 2/2 2 , C2 được phân công nhiệm v trực cổng A1 ga quốc tế đến Cảng hàng hông Quốc tế T. Lúc này, cán bộ hải quan Nguyễn Trung H1 đến gặp C2 đề nghị bảo lãnh 2 hách vào hu vực hạn chế để giải quyết hành lý. Sau đó, Huỳnh Thị B ch T1 và Phan Tấn P1 đi vào c a A1, T1 nói với C2 là vào chỗ anh H1 hải quan. Lúc đó, H1 đứng c a nh tiếp giáp hu vực sảnh và hu vực iểm soát Hải quan ác nhận đúng là người quen của H1 nên C2 tin tư ng, giải quyết cho T1, P1 vào hu vực chờ nhận hành lý của hành hách tại ga đến quốc tế đến (khu vực hạn chế) để đón người thân, hỗ trợ vận chuyển hành lý mà hông bắt buộc phải đi qua c a từ theo quy định.

Sau khi T1, P1 và L bị phát hiện và bị tạm giữ, C2 đã yêu cầu Phạm Trung H5, cán bộ an ninh hàng hông, trực vị tr C a từ đến c a A1, lấy thông tin trên chứng minh nhân dân của T1, P1, ghi vào sổ trực việc Nguyễn Trung H1 (cán bộ hải quan) bảo lãnh cho T1 và P1 vào hu vực hạn chế, lý do là để giải quyết hành lý. Lời hai nhận của Phạm Trung H – nhân viên an ninh hàng hông thuộc Cảng hàng hông Quốc tế T phù hợp với lời hai của Lê Mạnh C2.

Kết quả nhận dạng: Lê Mạnh C2 nhận dạng r công chức hải quan Nguyễn Trung H1 là người bảo lãnh cho Huỳnh Thị B ch T1 và Phan Tấn P1 vào hu vực chờ nhận hành lý.

Kết quả iểm tra h nh ảnh thu giữ từ camera an ninh tại hu vực cổng A1 ác định lời hai của C2 là phù hợp với diễn biến thể hiện trong dữ liệu camera. Mặt hác, dù quy định hu vực chờ hành hành lý ga đến quốc tế là hu vực hạn chế, nhưng nhân viên an ninh v n được ph p giải quyết cho người nhà của thân nhân đi từ nước ngoài vào để hỗ trợ mang hành lý hi có bảo lãnh và ghi ch p thông tin hành hách, thông tin người bảo lãnh vào Sổ trực. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ bản sao trang ghi ch p sổ trực rạng sáng ngày 1 / 2/2 2 của Cảng v hàng hông có thể hiện nội dung, vào lúc 1 giờ phút ngày 1 / 2/2 2 , có ghi nhận việc T1, P1 được cán bộ hải quan tên H1 bảo lãnh vào hu vực hạn chế để lý hàng hoá, thời gian phù hợp với hai nhận của C2, T1, P1.

-

Nguyễn Trung H1 hông thừa nhận nội dung hai nhận của Lê Mạnh C2 và hai: Khi thực hiện ca trực tại máy soi hành lý số , cùng công chức hải quan Nguyễn Thị Kim L2, vào thời điểm chuyến bay mang số hiệu NH833 từ Nhật Bản về Việt Nam hạ cánh, H1 có ra c a A1 ga quốc tế đến của Cảng hàng hông Quốc tế T gặp nhân viên an ninh hàng hông Lê Mạnh C2 hỏi về việc bảo lãnh cho người thân vào hu vực hạn chế để đón người từ nước ngoài về Việt Nam, chứ hông bảo lãnh cho T1 và P1 vào hu vực chờ nhận hành lý. Sau đó, H1 vào hu vực máy soi lu ng đỏ số để tiếp t c ca trực. Tại vị tr trực, H1 quan sát thấy T1, P1 vận chuyển 2 e đ y hành lý, mỗi e có 4 iện hàng qua lối đi bên hông hu vực máy soi số , hông hai báo hải quan, hông cho hàng hóa qua máy soi nhưng hông tiến hành iểm tra.

-

Nguyễn Thị Kim L2 hai nhận phù hợp với lời hai Nguyễn Trung H1. Nhưng L2 cho rằng L2 chỉ quan sát thấy T1 thực hiện hành vi vận chuyển e đ y hành lý, trên e có 4 iện hàng qua lối đi bên hông hu vực máy soi số . Tại thời điểm P1 thực hiện hành vi vận chuyển e đ y hành lý, trên e có 4 iện hàng qua lối đi bên hông hu vực máy soi số , L2 đi vệ sinh nên hông quan sát thấy.

-

Nguyễn Hoàng H4 và Phạm Lê Bảo U: là các cán bộ hải quan trực hầm máy soi thừa nhận việc sai sót hi tự ý rời vị tr trực nhưng hông báo cáo chỉ huy ca trực để lý. Đ ng thời, cả hai nghĩ rằng từ sau giờ, số lượng chuyến bay quốc tế đến hông nhiều, cán bộ trực tại máy soi nổi s iểm soát chặt ch đối với hành lý mang theo của hành hách, hông để ảy ra sai sót. Cả hai chỉ định về đơn vị nghỉ ngơi một lúc r i s tr lại vị tr trực, nhưng do mệt mỏi nên đã ngủ quên.

-

Nguyễn Thanh H2, Phó đội trư ng Đội thủ t c hành lý nhập cảnh, khai: H2 được phân công ph trách chỉ huy, lý t nh h nh ảy ra tại ca trực đêm 16, rạng sáng ngày 1 / 2/2020. Tuy nhiên, H2 chỉ điều hành, lý t nh huống trong trường hợp cán bộ trực báo cáo, chứ hông can thiệp vào công việc của cán bộ trực, hông biết việc Nguyễn Hoàng H4, Phạm Lê Bảo U bỏ vị tr trực và hông biết việc Nguyễn Trung H1, Nguyễn Thị Kim L2 hông iểm tra số hành lý bị bắt giữ.

-

Kết quả thực nghiệm điều tra (ngày 3/11/2 2 , có bản ảnh èm theo BL: 140-1 8): Khi tổ chức cho Hoàng H4, Bảo U cùng hai chuyên gia của C c H8 quan sát lại h nh ảnh soi chiếu đối với 12 iện hàng hóa vi phạm, đều ác nhận chung: Kết quả quan sát qua màn h nh ch p soi (tại hầm hành lý số 3) đủ cơ s ác nhận nghi vấn hàng hóa trong 12 iện hành lý là hàng điện t , cần dán b ng eo chuyên d ng, đánh dấu, buộc chủ hàng hóa phải ê hai, soi chiếu nổi có sự giám sát của cán bộ Hải quan trước hi vận chuyển vào lãnh thổ Việt Nam. Quá tr nh thực nghiệm, ác định điều iện bu ng làm việc tại hầm máy soi số 3 đối với 2 người là hông đảm bảo về mặt sức hỏe để thực hiện công việc trong ca trực liên t c, o dài do diện t ch bu ng chật ( hoảng 2m2, trần thấp, hông đảm bảo hông h lưu thông). Ánh sáng trong bu ng hông đảm bảo điều tiết tốt về mắt trong điều iện quan sát màn h nh liên t c. Việc Hoàng H4, Bảo U sau hi thực hiện ca trực dài từ 1 giờ 3 phút đến 12 giờ phút, cùng ngày 16/ 2/2 2 , hơn 8 tiếng, d n đến việc mệt mỏi là có cơ s .

Khi tổ chức cho T1, P1 thực hiện lại việc in Lê Mạnh C2 cho phép vào khu vực hạn chế để hỗ trợ L lấy hành lý, theo 3 t nh huống, tương ứng với lời hai của Nguyễn Trung H1, C2, T1 và P1. Kết quả ác nhận, lời hai của Lê Mạnh C2 phù hợp với diễn biến hách quan về mặt thời gian, vị tr làm việc, quan sát của các cá nhân H1, T1 và P1. Có cơ s để ác nhận Nguyễn Trung H1 là người đã bảo lãnh để C2 tin và đ ng ý giải quyết cho T1, P1 vào hu vực hạn chế để giúp L nhận hành lý, hông phải thực hiện theo quy định của Cảng v hàng hông và đi qua c a iểm soát (c a từ). Lời hai của Nguyễn Trung H1, T1, P1 là hông phù hợp với diễn biến hách quan theo t nh huống thực nghiệm.

Kết quả thực nghiệm đối với việc T1, P1 và L thực hiện lại hành vi sai phạm là vận chuyển 12 iện hàng hoá, trên 3 e đ y hành lý, qua lối đi bên hông máy soi số , hông hai báo, phù hợp với diễn biến hách quan, lời hai của các bị can, cá nhân liên quan và dữ liệu camera thu thập.

Bản Cáo trạng số 182/CT-VKS-P3, ngày 3 /3/2 21 của Viện Kiểm sát nhân dân nhân dân Thành phố H Ch Minh truy tố: các bị cáo Bùi Hữu L, Huỳnh Thị Bích T1, Phan Tấn P1 về tội “Buôn lậu” theo hoản 4 Điều 188 và các bị cáo Nguyễn Trung H1, Nguyễn Thị Kim L2 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c hoản 3 Điều 36 Bộ luật H nh sự 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 . Tại công v n số 282/VKS-P3 ngày 3/1 /2 22 Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H Ch Minh thay đổi việc truy tố các bị can Nguyễn Trung H1, Nguyễn Thị Kim L2 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại điểm d hoản 1 Điều 36 Bộ luật H nh sự 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2017.

Phần tranh tụng tại phiên tòa:

Đại diện Viện iểm sát Nhân dân Thành phố H Ch Minh sau hi em t đầy đủ chứng cứ có trong h sợ v án, ết quả t hỏi tại phiên t a, đã giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi và tội danh như Bản Cáo trạng số 182/CT-VKS-P3, ngày 3 /3/2 21 và công v n số 282/VKS-P3 ngày 3/1 /2 22 Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H Ch Minh.

Sau hi phân t ch t nh chất, mức độ phạm tội cũng như các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đ ng t :

+ Áp d ng điểm a hoản 4 Điều 188; điểm h, s hoản 1 hoản 2 Điều 1; Điều 4 Bộ luật H nh sự 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 :

X phạt bị cáo Bùi Hữu L 1. . . đ ng về tội “Buôn lậu”. Thời hạn tù t nh từ ngày bắt 1 / 2/2 2 .

+ Áp d ng điểm a hoản 4 Điều 188; điểm h, s hoản 1 hoản 2 Điều 1; Điều 4; Điều 8; Điều 1 Bộ luật H nh sự 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 :

X phạt bị cáo Phan Tấn P1 từ 3 n m 6 tháng tù đến 4 n m tù về tội “Buôn lậu”. Thời hạn tù t nh từ ngày bắt 1 / 2/2 2 .

+ Áp d ng điểm a hoản 3 Điều 188; điểm n, h, s hoản 1 hoản 2 Điều 1; Điều 4; Điều 8; Điều 1 Bộ luật H nh sự 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 :

X phạt bị cáo Huỳnh Thị B ch T1

. . đ ng về tội “Buôn lậu”. Thời hạn tù t nh từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

+ Áp d ng điểm d hoản 1 Điều 36 ; điểm s hoản 1 hoản 2 Điều 1 Bộ luật H nh sự 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 :

X phạt bị cáo Nguyễn Trung H1 1 n m đến 2 n m tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

+ Áp d ng điểm d hoản 1 Điều 36 ; điểm s hoản 1 hoản 2 Điều 1 Bộ luật H nh sự 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 :

X phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L2 từ H1 1 n m đến 2 n m tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Đề nghị lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư Trần Thị Hồng V bào chữa cho bị cáo L, T1, P1 tham gia tranh luận:

Luật sư hông tranh luận về mặt tội danh nhưng đề nghị Hội đ ng t

em t lại giá trị hàng hóa của v án để làm c n cứ ết tội và định hung h nh phạt đối với các bị cáo. Trong đó, Hội đ ng định giá trong tố t ng h nh sự cấp thành phố ác định có 82 máy t nh ách tay hông ác định được giá trị hàng hóa nhưng Hội đ ng định giá dựa vào giá của 3 công ty định giá và cộng lại r i chia đều ra là chưa phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đ ng t

em t giá trị để chuyển hung h nh phạt cho bị cáo. Ngoài ra, các bị cáo L, T1, P1 có nhiều t nh tiết giảm nhẹ như thành h n hai báo, n n n hối cải; bị cáo T1 phạm tội hi mang thai; các bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị cáo P1 có hoàn cảnh hó h n, cha già hông ai ch m sóc; bị cáo T1 hiện đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; bị cáo L thiếu hiểu biết pháp luật Việt Nam; các bị cáo L, Phát hiện đã bị tạm giam một thời gian há dài, thời gian đó cũng đủ tác d ng r n đe, giáo d c các bị cáo. Đề nghị Hội đ ng t chấp nhận đề nghị mức án của Hội đ ng t , đề nghị áp d ng mức h nh phạt tù bằng thời gian tạm giam đối với bị cáo P1.

Luật sư Nguyễn Minh C3 bào chữa cho bị cáo Phan Tấn P1 tham gia tranh luận: Đ ng ý với tội danh và điều hoản như Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đ ng t

em t lại vai tr của bị cáo P1, phạm tội đ ng phạm giúp sức rất hạn chế, hông có động cơ v lợi. Bị cáo phạm tội lần đầu; đã n n n hối cải, thành h n hai báo; gia đ nh có hoàn cảnh hó h n nên đề nghị Hội đ ng t

em t giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo mức h nh phạt tù bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam.

Luật sư Nguyễn Văn Q và Lê Thị Bích H3 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Kim L2 tranh luận: Luật sư thống nhất về tội danh như Cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đ ng t

em t một số t nh tiết giảm nhẹ và một số t nh tiết hác để cân nhắc áp d ng h nh phạt nhẹ nhất đối với bị cáo L2: bị cáo t ch cực hợp tác với cơ quan điều tra; đã thành h n hai báo n n n hối cải; phạm tội với lỗi vô ý hông có động cơ v lợi; thiệt hại của v án chỉ mới về mặt sổ sách, số lượng hàng hóa vi phạm chưa đưa ra thị trường tiêu th ; trong quá tr nh công tác bị cáo có thành t ch uất sắc có bằng hen của đơn vị công tác. Đ ng thời đề nghị Hội đ ng t

em t lại giá trị hậu quả do hành vi của bị cáo L2 gây ra, v tại thời điểm bị cáo P1 vận chuyển 4 iện hàng đi qua th L2 hông có mặt tại hu vực soi chiếu, L2 đã in P1 để đi vệ sinh. Hơn nữa, theo quy định th hầm số 3 phải chịu trách nhiệm đầu tiên, chứ hông phải hầm số vị tr của bị cáo L2 ng i soi chiếu nhưng hầm số 3 lại hông iểm tra, rời bỏ vị tr . Tuy nhiên các công chức hầm số 3 hông bị truy cứu trách nhiệm h nh sự nhưng truy tố các bị cáo L2, H1 là không công bằng. Do đó, đề nghị Hội đ ng t

em t áp d ng Điều 9 Bộ luật H nh sự miễn h nh phạt cho bị cáo L2.

Các Bị cáo hông tranh luận bổ sung, Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý iến của m nh đã tr nh bày trước phiên t a, hông tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng của các bị cáo in Hội đ ng t

em t giảm nhẹ h nh phạt cho các bị cáo hoặc áp d ng h nh phạt nhẹ nhất cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, c n cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên t a, Hội đ ng t nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân Thành phố H Ch Minh, iểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, tr nh tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng h nh sự. Quá tr nh điều tra bị cáo hông có ý iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Tại các bản tự hai, biên bản lấy lời hai, các bị cáo đều trình bày lời hai hoàn toàn tự nguyện, hông bị p cung, nh c h nh. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung v án: Trên cơ s đánh giá các chứng cứ có trong h sơ v án, đã được thu thập một cách khách quan, phù hợp với quy định của pháp luật và diễn biến tranh t ng tại phiên tòa, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ết luận định giá, vật chứng cùng các tài liệu hác đã có đủ cơ s kết luận:

Vào lúc 1 giờ 4 phút ngày 1 / 2/2 2 tổ công tác của Phòng C, Công an Thành phố H phát hiện Huỳnh Thị B ch T1, Phan Tấn P1 đang có hành vi vận chuyển trái ph p 8 iện hàng ra hỏi hu vực iểm soát Hải quan hông hai báo, hông qua máy soi chiếu hải quan và đang chu n bị đưa hàng hóa lên xe taxi. Cùng thời điểm, tổ công tác Ph ng Cảnh sát inh tế Công an Thành phố H c n phát hiện Bùi Hữu L cũng đang vận chuyển 4 iện hàng đi ph a sau. Qua iểm tra 12 iện hàng hóa là 2 máy t nh ách tay và 3 điện thoại di động đã qua s d ng, thuộc danh m c hàng cấm nhập h u) được Bùi Hữu L đưa từ Mỹ về Việt Nam để bán lại cho các hách hàng đã đặt mua tại Việt Nam nhằm thu lợi. Kết luận định giá tài sản số 9 /KL-HĐ ĐGTS ngày 1 /12/2 2 và Kết luận định giá tài sản số 394/KL-HĐ ĐGTS ngày 21/ 1/2 21 của Hội đ ng định giá tài sản thường uyên trong tố t ng h nh sự cấp thành phố ác định12 iện hàng nêu trên có giá trị 3.214. 33.333 đ ng.

Ngoài ra, khi Bùi Hữu L và đ ng phạm đưa hàng hóa vào h vực Hải quan, tại C a h u Cảng hàng không T4 để vào lãnh thổ Việt Nam th các công chức hải quan là Nguyễn Trung H1 và Nguyễn Thị Kim L2 (cán bộ Hải quan trực tại máy soi hành lý số ) đã thực hiện hông đầy đủ việc soi chiếu, hông tiến hành iểm tra, iểm soát Hải quan đối với hành lý nhập cảnh, hông thực hiện nhiệm v theo Quyết định số 328 /QĐ-TCHQ ngày 3 /9/2 16 của T6 về việc ban hành quy tr nh thủ t c hải quan đối với hành lý của người uất cảnh, nhập cảnh, hàng hóa do người uất cảnh, nhập cảnh mang trong hành lý, d n đến hậu quả các bị cáo L, T1, P1 hàng hóa cấm nhập h u qua hu vực hải quan để vào lãnh thổ Việt Nam. Tại công v n số 6126/HĐĐGTS-QLG ngày 9/9/2 22 (giải th ch èm theo Kết luận định giá tài sản số 7900/KL-HĐ ĐGTS ngày 1 /12/2 2 và Kết luận định giá tài sản số 394/KL-HĐ ĐGTS ngày 21/ 1/2 21), Hội đ ng định giá tài sản thường uyên trong tố t ng h nh sự cấp thành phố ác định số tiền thuế GTGT của lô hàng vi phạm là 321.4 3.3 đ ng. Theo quy định tại Điều 1 1 Bộ luật tố t ng h nh sự th Kết luận định giá tài sản là v n bản do Hội đ ng định giá tài sản lập để ết luận về giá của tài sản được yêu cầu và là một trong những c n cứ để giải quyết v án, Hội đ ng định giá tài sản ết luận giá của tài sản và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về ết luận đó.

Như vậy, với các hành vi nêu trên có đủ c n cứ để ết luận: Bùi Hữu L, Phan Tấn P1, Huỳnh Thị B ch T1 đã phạm vào tội “Buôn lậu”, tội phạm và h nh phạt được quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự n m 2 1 , s a đổi, bổ sung n m 2 1 ; các bị cáo Nguyễn Trung H1 và Nguyễn Thị Kim L2 đã phạm vào tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, tội phạm và h nh phạt được quy định tại Điều 36 Bộ luật h nh sự 2 1 , s a đổi bổ sung 2 1 như Cáo trạng của Viện iểm sát nhân dân Thành phố H Ch Minh truy tố đối với các bị cáo là có c n cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Hữu L, Phan Tấn P1 và Huỳnh Thị Bích T1 đã âm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, vi phạm các quy định của pháp luật về buôn bán hàng hóa qua biên giới, gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trung H1 và Nguyễn Thị Kim L2 đã âm phạm đến hoạt động quản lý của nhà nước nói chung và chức n ng, nhiệm v của Hải quan nói riêng d n đến hậu quả các bị cáo L, T1, P1 đưa hàng cấm nhập h u qua hu vực hải quan để vào lãnh thổ Việt Nam, gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, cần phải lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm giáo d c riêng và ph ng ngừa chung cho ã hội.

Khi quyết định h nh phạt Hội đ ng t

em t đánh giá hành vi, hậu quả cũng như vai tr tham gia trong v án, các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự để phân hóa tội phạm, c thể:

. Đối với bị cáo Bùi Hữu L: phạm tội với vai tr ch nh trong v án, bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ lô hàng phạm pháp được đưa vào lãnh thổ Việt Nam, giá trị 3.214. 33.333 đ ng. Do đó, cần áp d ng điểm a hoản 4 Điều 188 Bộ luật H nh sự để quyết định mức h nh phạt đủ nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo thành h n hai báo; n n n hối cải; trong quá tr nh điều tra đã chủ động hai báo toàn bộ hành vi phạm tội; toàn bộ lô hàng đã bị phát hiện thu giữ, chưa đưa ra lưu thông ngoài thị trường. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại h, s hoản 1 hoản 2 Điều 1 Bộ luật H nh sự 2 1 cần áp d ng để giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo. X t thấy trong v án này, bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 1 / 2/2 2 cho đến nay là 3 n m tháng 8 ngày, thời hạn tạm giam đó cũng đủ tác d ng r n đe, giáo d c bị cáo. Tại phiên t a vợ bị cáo là bị cáo T1 có tr nh bày nội dung thông tin tài hoản tiết iệm tiền g i tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K và bị cáo in được áp d ng h nh phạt tiền để thi hành sung vào Ngân sách nhà nước theo quy định. X t thấy, bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ, toàn bộ số lượng hàng hóa phạm pháp đã bị phát hiện thu giữ, chưa được đưa ra tiêu th ngoài thị trường, có hả n ng tài ch nh để thi hành h nh phạt tiền nên hi lượng h nh Hội đ ng t áp d ng Điều 4 Bộ luật H nh sự, cân nhắc áp d ng h nh phạt tiền đối với bị cáo. Như vậy, cũng tương ứng với t nh chất, mức độ và hậu phạm tội của bị cáo, phù hợp với hả n ng tài ch nh như bị cáo tr nh bày tại phiên t a và phù hợp với lời đề nghị của Đại diện Viện iểm sát tại phiên tòa.

Đ ng thời, áp d ng hoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố t ng h nh sự, trả tự do ngay tại phiên t a cho bị cáo Bùi Hữu L nếu bị cáo hông bị tạm giam về một tội phạm hác do bị cáo bị phạt bằng h nh phạt hông phải là h nh phạt tù.

. Đối với bị cáo Phan Tấn P1: bị cáo phạm tội với vai tr đ ng phạm giúp sức, ết quả điều tra ác định bị cáo giúp L đưa 4 iện hàng (từ số 1 đến số 4) qua c a h u hải quan sân bay quốc tế T4 vào lãnh thổ Việt Nam để tiêu th , trị giá hàng hóa bị cáo phải chịu trách nhiệm h nh sự là: 1.2 8.2 . đ ng. Do đó, cần áp d ng điểm a hoản 4 Điều 188 Bộ luật H nh sự để quyết định mức h nh phạt đủ nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo thành h n hai báo; n n n hối cải; trong quá tr nh điều tra đã chủ động hai báo toàn bộ hành vi phạm tội; phạm tội với vai tr đ ng phạm giúp sức, toàn bộ số lượng hàng hóa phạm pháp đã bị phát hiện thu giữ, chưa được đưa ra tiêu th ngoài thị trường . Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại h, s hoản 1 hoản 2 Điều 1 Bộ luật H nh sự 2 1 cần áp d ng để giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo. X t thấy trong v án này, bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 1 / 2/2 2 cho đến nay là 3 n m

tháng 8 ngày, thời hạn tạm giam đó cũng đủ tác d ng r n đe, giáo d c bị cáo. Do đó, Hội đ ng t áp d ng thêm Điều 4; Điều 1 và Điều 8 Bộ luật H nh sự, cân nhắc áp d ng h nh phạt tù có thời hạn bằng với thời gian bị cáo bị tạm giam. Như vậy cũng tương ứng với t nh chất, mức độ và hậu phạm tội do bị cáo gây ra. Đ ng thời, áp d ng Điều 328 Bộ luật Tố t ng h nh sự, trả tự do ngay tại phiên t a cho bị cáo P1 nếu bị cáo hông bị tạm giam về một tội phạm hác.

. Đối với bị cáo Huỳnh Thị Bích T1: bị cáo phạm tội với vai tr đ ng phạm giúp sức, ết quả điều tra ác định bị cáo giúp L đưa 4 iện hàng (từ số 1 đến số 4) qua c a h u hải quan sân bay quốc tế T4 vào lãnh thổ Việt Nam để tiêu th , trị giá hàng hóa bị cáo phải chịu trách nhiệm h nh sự là: 949.433.333 đ ng. Do đó, cần áp d ng điểm a hoản 3 Điều 188 Bộ luật H nh sự để quyết định mức h nh phạt đủ nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, t thấy bị cáo thành h n hai báo; n n n hối cải; trong quá tr nh điều tra đã chủ động hai báo toàn bộ hành vi phạm tội; phạm tội hi mang thai, hiện đang nuôi con nhỏ; phạm tội với vai tr đ ng phạm giúp sức, toàn bộ số lượng hàng hóa phạm pháp đã bị phát hiện thu giữ, chưa được đưa ra tiêu th ngoài thị trường. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại h, n, s hoản 1 hoản 2 Điều 1 Bộ luật H nh sự 2 1 cần áp d ng để giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo. Tại phiên t a bị cáo T1 có trình bày nội dung thông tin tài hoản tiết iệm tiền g i tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K và in được áp d ng h nh phạt tiền để thi hành sung vào Ngân sách nhà nước theo quy định. X t thấy, bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ, vai tr đ ng phạm như đã phân t ch nên hi lượng h nh Hội đ ng t vận d ng hoản 1 Điều 4; Điều 8; Điều 1 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 để cân nhắc áp d ng h nh phạt tiền đối với bị cáo. Như vậy, cũng tương ứng với t nh chất, mức độ, hậu quả phạm tội do bị cáo gây ra và phù hợp với lời đề nghị của Đại diện Viện iểm sát tại phiên t a.

[4.4; 4. ]. Đối với các bị cáo Nguyễn Trung H1 và Nguyễn Thị Kim L2: là cán bộ Hải quan trực tại máy soi hành lý số của c a h u Sân bay T4, các bị cáo đã thực hiện hông đầy đủ việc soi chiếu, hông tiến hành iểm tra, iểm soát Hải quan đối với hành lý nhập cảnh, hông thực hiện nhiệm v theo Quyết định số 328 /QĐ-TCHQ ngày 3 /9/2 16 của T6 về việc ban hành quy tr nh thủ t c hải quan đối với hành lý của người uất cảnh, nhập cảnh, hàng hóa do người uất cảnh, nhập cảnh mang trong hành lý, d n đến hậu quả các bị cáo L, T1, P1 đưa hàng hóa cấm nhập h u qua hu vực hải quan để vào lãnh thổ Việt Nam. Tại công v n số 6126/HĐĐGTS-QLG ngày 9/9/2 22 (giải th ch èm theo Kết luận định giá tài sản số 9 /KL-HĐ ĐGTS ngày 1 /12/2 2 và Kết luận định giá tài sản số 394/KL-HĐ ĐGTS ngày 21/ 1/2 21), Hội đ ng định giá tài sản thường uyên trong tố t ng h nh sự cấp thành phố ác định số tiền thuế GTGT của lô hàng vi phạm là 321.473.3 đ ng. Với hành vi đó, hi lượng h nh cần áp d ng điểm d hoản 1 Điều 36 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 để quyết định h nh phạt phù hợp, nhằm r n đe, giáo d c các bị cáo và ph ng ngừa chung cho ã hội.

Tuy nhiên, t thấy các bị cáo thành h n hai báo; n n n hối cải; trong quá tr nh điều tra đã chủ động hai báo toàn bộ hành vi phạm tội; toàn bộ số lượng hàng hóa phạm pháp đã bị phát hiện thu giữ, chưa được đưa ra tiêu th ngoài thị trường; quá tr nh công tác có thành t ch uất sắc được tặng giấy hen, bằng hen của đơn vị công tác. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại h, s, v hoản 1 hoản 2 Điều 1 Bộ luật H nh sự 2 1 cần áp d ng để giảm nhẹ một phần h nh phạt cho các bị cáo. X t thấy các bị cáo có nơi cư trú r ràng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự như đã phân t ch. C n cứ theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 1 / /2 18 và Điều 1 của Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đ ng Th m phán Tòa án nhân dân Tối cao, thì bị cáo đủ điều kiện được hư ng án treo và không thuộc trường hợp hông cho hư ng án treo. Do đó, hi lượng hình, Hội đ ng xét x áp d ng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự n m 2 1 , s a đổi bổ sung n m 2 1 , cho các bị cáo được hư ng án treo, như vậy cũng đủ tác d ng r n đe, giáo d c và phòng ngừa chung cho xã hội. Việc cho bị cáo hư ng án treo cũng phù hợp lời đề nghị của Đại diện Viện iểm sát nhân dân Thành phố H Ch Minh tại phiên t a.

. Đối với số tiền 321.4 3.3 đ ng là tiền thuế GTGT trên số lượng hàng hóa vi phạm (theo công v n số 6126/HĐĐGTS-QLG ngày 9/9/2 22 (giải th ch èm theo Kết luận định giá tài sản số 9 /KL-HĐ ĐGTS ngày 1 /12/2 2 và Kết luận định giá tài sản số 394/KL-HĐ ĐGTS ngày 21/ 1/2 21), Hội đ ng định giá tài sản thường uyên trong tố t ng h nh sự cấp thành phố ác định). Do số hàng hóa đã bị thu giữ, chưa được lưu thông trên thị trường nên Hội đ ng t

hông buộc các bị cáo phải liên đới nộp lại số tiền thuế theo quy định.

[ ] Về h nh phạt bổ sung: Do số hàng hóa vi phạm bị phát hiện chưa bán ra thị trường nên chưa thu được lợi nhuận, một số bị cáo đã bị áp d ng h nh phạt ch nh là phạt tiền nên Hội đ ng t

hông áp d ng h nh phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Trên đây là lập luận của Hội đ ng t đối với quan điểm giải quyết v án của đại diện Viện iểm sát, cũng như lời bào chữa của các luật sư cho các bị cáo.

. Đối với các cá nhân có liên quan như Nguyễn Hữu C1, Nguyễn Hoàng H4, Phạm Lê Bảo U, Nguyễn Thanh H2, Lê Mạnh C2. Qúa tr nh th lý t , T a án nhân dân Thành phố H Ch Minh đã trả h sơ để điều tra bổ sung, làm r trách nhiệm, vi phạm của các cá nhân này để lý theo quy định. Tuy nhiên, ết quả điều tra chưa đủ cơ s ác định các cá nhân này có liên quan đến v án hoặc chưa đến mức phải lý trách nhiệm h nh sự nên Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hông lý đối với các cá nhân này.

[1 ] Về lý vật chứng:

- 12 thùng nhựa, được đánh số thứ tự từ 1 đến 12, chứa 2 máy tính và 03 điện thoại di động các loại đã qua s d ng có chữ ý niêm phong như sau: từ thùng số 1 đến 4 có chữ ý niêm phong của Bùi Hữu L và Phan Tấn P1; từ thùng đến 8 có chữ ý niêm phong của Bùi Hữu L và Huỳnh Thị B ch T1; từ thùng số 9 đến 12 có chữ ý niêm phong của Bùi Hữu L, đ ng thời 12 thùng nêu trên có chữ ý ĐTV V Vũ H6, dấu mộc của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (niêm phong còn nguyên vẹn, hông iểm tra số lượng, chủng loại, t nh trạng máy móc). Đây là vật chứng v án, c n giá trị s d ng nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước theo quy định.

Bị cáo phải chịu án ph h nh sự sơ th m theo quy định tại hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng h nh sự n m 2 1 và Nghị quyết số 326/2 16/UBTVQH14 ngày 3 /12/2 16 của Ủy ban Thường v Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ C n cứ điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự n m 2 1 s a đổi, bổ sung n m 2 1 ; điểm h, s, hoản 1 hoản 2 Điều 1; Điều 4; Điều 8; Điều 1 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , được s a đổi bổ sung n m 2 1 :

X phạt: bị cáo Bùi Hữu L: 1. . . (Một tỉ n m tr m triệu) đ ng về tội “Buôn lậu”, để sung vào Ngân sách Nhà nước.

C n cứ hoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố t ng h nh sự n m 2 1 : X t bị cáo bị

phạt bằng h nh phạt hông phải là h nh phạt tù nên trả tự do cho bị cáo Bùi HữuLộc ngay tại phiên t a, nếu bị cáo hông bị tạm giam về một tội phạm hác.

2/ C n cứ điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự n m 2 1 s a đổi, bổ sung n m 2 1 ; điểm h, s hoản 1, hoản 2 Điều 1; Điều 4; Điều 8; Điều 1 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , được s a đổi bổ sung n m 2 1 .

X phạt: bị cáo Phan Tấn P1: 3 (Ba) n m (N m) tháng 8 (T3) ngày tù về tội “Buôn lậu”. Thời hạn tù t nh từ ngày 1 / 2/2 2 .

C n cứ hoản Điều 328 Bộ luật Tố t ng h nh sự n m 2 1 : X t thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giam nên trả tự do cho bị cáo Phan Tấn P1 ngay tại phiên t a, nếu bị cáo hông bị tạm giam về một tội phạm hác.

3/ C n cứ điểm a khoản 3 Điều 188 Bộ luật Hình sự n m 2 1 s a đổi, bổ sung n m 2 1 ; điểm s, n, h hoản 1, hoản 2 Điều 1; Điều 4; Điều 8; Điều 1 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , được s a đổi bổ sung n m 2 1 .

X phạt: bị cáo Huỳnh Thị B ch T1:

. . (N m tr m triệu) đ ng về tội “Buôn lậu” để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

4/ C n cứ điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự n m 2 1 s a đổi, bổ sung n m 2 1 ; điểm s, h, v hoản 1, hoản 2 Điều 1; Điều 6 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , được s a đổi bổ sung n m 2 1 .

X phạt: bị cáo Nguyễn Trung H1: 1 (Một) n m tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời gian th thách là 2 (Hai) n m, t nh từ ngày tuyên án sơ th m. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, Quận G, Thành phố H Ch Minh giám sát, giáo d c bị cáo trong thời gian th thách. Trong thời gian th thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa v 2 lần tr lên th T a án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành h nh phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.

/ C n cứ điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự n m 2 1 s a đổi, bổ sung n m 2 1 ; điểm s, h, v hoản 1, hoản 2 Điều 1; Điều 6 Bộ luật H nh sự n m 2 1 , được s a đổi bổ sung n m 2 1 .

X phạt: bị cáo Nguyễn Thị Kim L2: 1 (Một) n m tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời gian th thách là 2 (Hai) n m, t nh từ ngày tuyên án sơ th m. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố T, Thành phố H Ch Minh giám sát, giáo d c bị cáo trong thời gian th thách. Trong thời gian th thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa v 2 lần tr lên th T a án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành h nh phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú s được thực hiện theo Điều 92 luật Thi hành án h nh sự n m 2 19.

C n cứ Điều 1 6 Bộ luật tố t ng h nh sự: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước đối với : 12 thùng nhựa, được đánh số thứ tự từ 1 đến 12, chứa 2 máy t nh và 3 điện thoại di động các loại đã qua s d ng có chữ ý niêm phong như sau: từ thùng số 1 đến 4 có chữ ý niêm phong của Bùi Hữu L và Phan Tấn P1; từ thùng đến 8 có chữ ý niêm phong của Bùi Hữu L và Huỳnh Thị B ch T1; từ thùng số 9 đến 12 có chữ ý niêm phong của Bùi Hữu L, đ ng thời 12 thùng nêu trên có chữ ý ĐTV V Vũ H6, dấu mộc của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (niêm phong c n nguyên vẹn, hông iểm tra số lượng, chủng loại, t nh trạng máy móc) (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK 2 21/28 ngày 18 tháng n m 2 21 tại C c Thi hành án Dân sự Thành phố h Ch Minh).

C n cứ hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng h nh sự n m 2 1 và Nghị quyết số 326/2 16/UBTVQH14 ngày 3 /12/2 16 của Ủy ban Thường v Quốc Hội. Buộc: Mỗi bị cáo phải chịu án ph h nh sự sơ th m là 2 . (Hai tr m ngàn) đ ng.

Bị cáo được quyền háng cáo bản án trong thời hạn 1 ngày ể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt được quyền háng cáo bản án trong thời hạn 1 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. (Đã giải thích chế định án treo đối với các bị cáo được hư ng án treo).

Cỡ chữ