- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, con chung"
- Tòa quyết gì? 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 35/2024/ HNGĐ - ST Ngày 30/12/ 2024 “ V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn; Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngát;
2. Bà Nguyễn Thị Bắc;
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đức - Kiểm sát viên sơ cấp. Trong ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXX- ST ngày 06 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1992; Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992; Nơi thường trú: Thôn N, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Nơi đang chấp hành án: Trại tạm giam Công an Thành phố H. (Chị N, anh Đ đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1] Trong đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo có trong hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn cùng với anh Nguyễn Văn Đ vào tháng
08/2011, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi lấy nhau xong chị về gia đình anh Đ ở chung cùng gia đình luôn, quá trình chung sống ban đầu hòa thuận hạnh phúc.
Mâu thuẫn đã phát sinh từ đầu năm 2020, nguyên nhân do vợ chồng không
hợp nhau, bảo nhau không ai nghe ai nên hay cãi nhau nhiều lần do đó tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, không cải thiện được. Vợ chồng đã sống ly thân về tình cảm từ tháng 05 năm 2020 cho đến nay. Đầu năm 2023 anh Đ có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt hơn 04 năm tù giam, hiện nay anh Đ đang chấp hành án tại Trại giam Công an thành phố H.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được
nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Cẩm T, sinh
ngày 30/9/2011. Cháu hiện nay đều đang ở cùng với chị, nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng. Hiện nay chị đang làm công nhân thu nhập mỗi tháng khoảng 12.000.0000/tháng, chị đảm bảo việc nuôi con khi được giao, chị hiện đang ở chung cùng bố mẹ đẻ.
Về tài sản, công nợ chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa
án xem xét, giải quyết.
Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
[2] Những lời khai của bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị N vào năm 2010,
trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 31/08/2011 tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị N về sinh sống cùng gia đình anh tại Thôn L, xã T tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn đã phát sinh từ đầu năm 2020, nguyên nhân do vợ chồng không
hợp nhau, bảo nhau không ai nghe ai nên hay cãi nhau nhiều lần do đó tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, không cải thiện được. Vợ chồng đã sống ly thân về tình cảm từ tháng 05 năm 2020 cho đến nay. Đầu năm 2023 do anh đã có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt hơn 04 năm tù, hiện nay anh đang chấp hành án tại Trại giam Công an thành phố H.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị N đề nghị ly hôn
anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị N có 01 con chung là cháu Nguyễn Cẩm T, sinh
ngày 30/9/2011. Cháu hiện nay đang ở với chị N, nếu ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi cháu T anh nhất trí.
Về tài sản, công nợ chung: Anh xác định không có nên không yêu cầu Tòa
án xem xét, giải quyết.
Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.
[3] Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán,
Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 19; khoản 1 Điều 51;
Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn Đ được
ly hôn nhau.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục cháu Nguyễn Cẩm T, sinh ngày 30/9/2011; Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ
thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên không
đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo
quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ, anh Đ hiện có hộ khẩu thường trú tại huyện S. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, tài liệu chứng cứ do các đương
sự cung cấp và những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được thì có cơ sở xác định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N kết hôn với anh Nguyễn Văn Đ
năm 2011, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 31 tháng 8 năm 2011 phù hợp với quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Sau khi cưới, chị N về sinh sống cùng với anh T1; quá trình chung sống ban đầu tình cảm hòa thuận hạnh phúc; xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Đ là hợp pháp.
Theo lời trình bày của chị Nguyễn Thị N vợ chồng thường xuyên xảy ra
mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bảo nhau không ai nghe ai nên hay cãi nhau nhiều lần do đó tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, không cải thiện được. Vợ chồng đã sống ly thân về tình cảm từ tháng 05 năm 2020 cho đến nay. Đầu năm 2023 do anh Đ đã có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt hơn 04 năm tù, hiện nay anh Đ đang chấp hành án tại Trại giam Công an thành phố H; anh Đ cũng nhất trí với lời trình bày của chị N là đúng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có
thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Xét thấy: Chị N và anh Đ đã xảy ra mâu thuẫn thường xuyên, hai bên đã
không quan tâm giúp đỡ đến nhau, không cùng chăm sóc, nuôi dạy con chung cũng như đã ly thân nhau về mặt tình cảm được một khoảng thời gian và cả hai không giải hòa được. Như vậy, chị N và anh Đ đã vi phạm nghĩa vụ chung sống vợ chồng, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu ly hôn anh Đ đồng ý; Từ những phân tích trên, căn cứ vào các quy định của pháp luật theo khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị N và anh Đ được ly hôn nhau. Về con chung: Chị N và anh Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Cẩm T, sinh ngày 30/9/2011, hiện cháu đang ở cùng với chị N. Chị N có nguyện vọng được nuôi cháu T, anh Đ nhất trí, đồng thời cháu T cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Để đảm bảo quyền của bà mẹ và trẻ em, chia sẻ trách nhiệm của bố mẹ đối với các con cũng như quyền lợi về mọi mặt của con nên yêu cầu của của chị N được chấp nhận theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Cẩm T, là hợp lý. Do chị N không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Chị N và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết
về tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly
hôn theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 19; khoản 1 Điều 51; Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57,
81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn Đ
được ly hôn nhau.
[2] Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục cháu Nguyễn Cẩm T, sinh ngày 30/9/2011. Về cấp dưỡng nuôi con chị N không có yêu cầu nên không đặt xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của anh Tô Văn T1, chị Hoàng Thị L hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, có thể thỏa thuận việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. [3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005380 ngày 17/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân dự huyện S, tỉnh Bắc Giang.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Sơn Động; - Chi cục THADS huyện Sơn Động; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã Tuấn Đạo; - Lưu . | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Toàn |