- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án ly hôn"
- Tòa quyết gì? *Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Phạm Văn Tốt được ly hôn chị Phạm Thị Liên.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: /2017/ HNGĐ-ST Ngày: 29/9/2017 (V/v xin li hôn) *Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm. *Các hội thẩm nhân dân: 1/Ông: Nguyễn Thanh Bình - Cán bộ hưu. 2/Ông: Lê Văn Đỉnh *Thư ký phiên tòa: Ông Dương Mạnh Hùng - Thư ký tòa án. * Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông: Đỗ Văn Tú - Kiểm sát viên. phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 145/2017/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2017 về việc xin li hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2017/QĐST- HNGĐ ngày 28/8/2017 giữa các đương sự: *Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Tốt - sinh năm 1983(vắng mặt)., *Bị đơn: Chị Phạm Thị Liên - sinh năm 1986 (vắng mặt). * Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/ Cháu Phạm Thị Thùy Dương - sinh ngày 18/10/2006. 2/ Cháu: Phạm Quỳnh Chi - sinh ngày 18/5/2010. Người đại diện hợp pháp cho các cháu: Anh Phạm Văn Tốt (bố đẻ) Đều trú tại: Cao Trai - Bắc Sơn - Ân Thi - Hưng Yên. | Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi mở |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung trình bày của Nguyên đơn anh Phạm Văn Tốt: Anh và chị Phạm Thị Liên - sinh năm 1986 là hai người cùng địa phương, có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bắc Sơn - Ân Thi ngày 10/12/2005. Sau khi cưới chị Liên về ngay gia đình anh sinh sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề của cuộc sống, trong làm ăn kinh tế cũng như trong nuôi dạy con chung. Trong đó mâu thuẫn chủ yếu là về kinh tế, vợ chồng không tin tưởng nhau, công việc của ai người ấy làm, khoảng cách giữa hai vợ chồng ngày càng xa dần, tình cảm dành cho nhau ngày càng ít đi. Từ đó nảy sinh to tiếng, những lúc bực tức thường đánh cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không tìm được giải pháp gì để tháo gỡ, từ đầu năm 2015 đến nay vợ chồng sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Liên.
+Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là các cháu Phạm Thị Thùy Dương - sinh ngày 18/10/2006 và Phạm Quỳnh Chi - sinh ngày 18/5/2010, hai cháu hiện đang ở cùng anh. Anh có nguyện vọng xin được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi thành niên, anh không yêu cầu chị Liên phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh.
+Về tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng canh tác: Anh tự nguyện không đề nghị Tòa án giải quyết.
*Theo người làm chứng là ông Phạm Văn Dũng (là bố đẻ chị Liên) trình bày: Chị Liên và anh Tốt kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bắc Sơn - Ân Thi vào tháng 12/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng chị Liên và anh Tốt sinh sống tại gia đình bố, mẹ đẻ anh Tốt. Cuộc sống vợ chồng anh chị hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhâu mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, trong nuôi dạy con chung. Trong đó nguyên nhân kinh tế là chủ yếu, vợ chồng không tôn trọng, tin tưởng nhau nên thường xuyên va chạm, đánh cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn kéo dài nhưng vợ chồng không tìm được giải pháp để tháo gỡ, từ năm 2015 đến nay thì sống ly thân nhau. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn, bản thân ông cũng khuyên giải vợ chồng nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay anh Tốt có đơn xin ly hôn chị Liên, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Phạm Thị Thùy Dương - sinh năm 2006 và cháu Phạm Quỳnh Chi - sinh năm 2010, hiện hai cháu đang ở cùng anh Tốt.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Ông không nắm được, đề nghị Tòa án xác minh và giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hiện nay chị Liên đang làm ăn tại Hà Nội, cụ thể làm ở chỗ nào thì ông không rõ. Gia đình và chị Liên vẫn thường xuyên gọi điện liên lạc với nhau, hàng tuần chị Liên vẫn về gia đình chơi. Liên quan đến việc giải quyết ly hôn giữa vợ chồng chị Liên, anh Tốt, ông đề nghị Tòa án gửi các văn bản tố tụng có liên quan đến việc giải quyết vụ án cho ông, ông có trách nhiệm giao tận tay cho chị Liên.
* Theo lời trình bày của ông Phạm Văn Tươi (bố đẻ anh Tốt): Anh, chị có thời gian tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bắc Sơn - Ân Thi vào năm 2005. Sau khi kết hôn vợ chồng anh, chị về sinh sống tại gia đình ông, cuộc sống vợ chồng thỉnh thoảng có nảy sinh mâu thuẫn, to tiếng cãi nhau nhưng đó chỉ là những va chạm nhỏ. Đầu năm 2014 vợ chồng anh chị nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, trong làm ăn kinh tế và nuôi dạy con chung. Vợ chồng không tôn trọng, tin tưởng nên thường xuyên va chạm, đánh cãi chửi nhau, cuộc sống trong gia đình rất căng thẳng, nặng nề. Bản thân ông đã nhiều lần phân tích, động viên vợ chồng nhìn lại bản thân để có hướng sửa chữa, hóa giải mâu thuẫn để gia đình hạnh phúc nhưng không có kết quả. Từ đầu năm 2015, chị Liên đã về sinh sống cùng gia đình bố, mẹ đẻ, vợ chồng ly thân nhau từ đó cho đến nay. Bản thân ông và bố chị Liên vẫn qua lại, quan tâm lẫn nhau, chị Liên đi làm ở Hà Nội, cụ thể làm gì? ở chỗ nào? Thì ông không nắm được, hàng tuần có về thăm gia đình và qua nhà ông thăm các cháu. Nay anh Tốt có đơn xin ly hôn chị Liên, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
+Về con chung: Vợ chồng anh Tốt, chị Liên có 02 con chung là Phạm Thị Thùy Dương - sinh năm 2006 và Phạm Quỳnh Chi - sinh năm 2010, hai cháu đang ở cùng ông và anh Tốt
Ông không biết vợ chồng anh Tốt có hay không có tài sản chung.
*Ngày 18/8/2017 tiến hành xác minh tại UBND xã Bắc Sơn - Ân Thi về tình trạng hôn nhân của anh, chị, được địa phương cung cấp: Anh Tốt và chị Liên có hộ khẩu thường trú tại địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bắc Sơn vòa tháng 12/2005. Quá trình chung sống hòa thuận, đầu năm 2014 nảy sinh mâu thuẫn chủ yếu do nguyên nhân về kinh tế. Từ đầu năm 2015 đén nay, chị Liên về gia đình bố, mẹ đẻ sinh sống, hiện nay chị Liên đi làm ăn ở Hà Nội, cụ thể ở đâu thì địa phương không nắm được. Hàng tuần vẫn về thăm bố, mẹ đẻ và các con, về thời gian cụ thể nào trong tuần thì địa phương không nắm được. Hiện nay anh Tốt đang làm trang trại, chăn nuôi lợn, gà, kinh tế ổn định. Anh Tốt có đơn xin ly hôn chị Liên , địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh, chị có 02 con chung: Phạm Thị Thùy Dương - sinh năm 2006 và Phạm Quỳnh Chi - sinh năm 2010, hiện anh Tốt đang nuôi dưỡng.
Vợ chồng anh Tốt có tài sản chung hay không địa phương không nắm được.
Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ chị Liên nhiều lần đến Tòa làm việc nhưng chị Liên đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, hòa giải đoàn tụ vợ chồng cho anh, chị được.
Ngày 13/9/2017, Tòa án nhân dân huyện mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án. Tại phiên tòa có mặt anh Tốt còn chị Liên được giao giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đã phải hoãn phiên tòa và ấn định phiên tòa được mở lại vào ngày 29/9/2017. Ngày 25/9/2017 anh Tốt có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh vì lý do công việc anh không thể có mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay: Do chị Liên được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt tại Tòa. Anh Tốt có đơn đề nghị xin được xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa thay mặt hội đồng xét xử công bố nội dung các lời khai của nguyên đơn, những người làm chứng và kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân của anh, chị tại địa phương. * Ý kiến và quan điểm của đại diện VKSND huyện tham gia phiên tòa: + Về chấp hành pháp luật tố tụng:
- Trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán, thư ký chấp hành đúng quy định tại điều 48; 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. -Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. -Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, hòa giải, công khai tiếp nhận chứng cứ nhưng vắng mặt không có lý do, vi phạm khoản 15, 16 điều 70 và điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. + Về đường lối giải quyết:
Áp dụng điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và điều 84 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 4 điều 147; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Phạm Văn Tốt được ly hôn chị Phạm Thị Liên.
- Về con chung: Giao hai con chung của vợ chồng là các cháu Phạm Thị Thùy Dương - sinh ngày 18/10/2006 và cháu Phạm Quỳnh Chi - sinh ngày 18/5/2010 cho anh Tốt được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Tốt không yêu cầu chị Liên phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, chị Liên được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, anh Tốt không được ngăn cản.
- Tài sản chung, công nợ, công sức, ruộng canh tác: Không đặt ra giải quyết.
Sau này chị Liên có yêu cầu về con chung, tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng canh tác có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác.
- Án phí: Anh Tốt phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số: 326 ngày 31/12/2016 của Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
*Về quan hệ hôn nhân: Anh Tốt và chị Liên là hai người cùng địa phương, có thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bắc Sơn
- Ân Thi ngày 10/12/2005. Quá trình chung sống, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến năm 2015 thì vợ chồng sống ly thân nhau.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo nguyên đơn anh Tốt cũng như lời trình bày của ông Dũng (là bố đẻ chị Liên) và ông Tươi (là bố đẻ anh Tốt) là do vợ chồng anh chị tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm sống cũng như công việc làm ăn hàng ngày, đặc biệt là trong vấn đề kinh tế. Trong cuộc sống vợ chồng thiếu tin tưởng lẫn nhau dẫn đến thường xuyên, cãi vã đánh chửi nhau, trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình động viên khuyên giải nhưng mâu thuẫn giữa hai anh chị không được cải thiện. Mâu thuẫn vợ chồng vẫn còn tồn tại và kéo dài cho đến đầu năm 2015 thì anh chị sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai, kinh tế vợ chồng độc lập. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết Tòa án tiến hành triệu tập chị Liên để hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng chị Liên được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại các buổi làm việc và hòa giải, anh Tốt đều giữ nguyên quan điểm xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài và cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Liên để anh có điều kiện ổn định cuộc sống. Từ các phân tích trên xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa hai anh, chị đã đến mức trầm trọng, thời gian vợ chồng sống ly thân nhau không quan tâm đến nhau đã quá dài, tình cảm vợ chồng giữa anh Tốt và chị Liên không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Cần giải quyết cho anh Tốt được ly hôn chị Liên để các bên có điều kiện ổn định cuộc sống.
*Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là các cháu Phạm Thị Thùy Dương - sinh ngày 18/10/2006 và Phạm Quỳnh Chi - sinh ngày 18/5/2010, từ khi vợ chồng sống ly thân nhau các cháu ở cùng anh Tốt. Quan điểm của anh Tốt, nếu vợ chồng ly hôn anh xin được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu đến tuổi thành niên, anh tự nguyện không yêu cầu chị Liên phải cấp dưỡng nuôi con cho anh. Xét nguyện vọng của anh Tốt là hoàn toàn chính đáng và phù hợp pháp luật, thể hiện được trách nhiệm của anh đối với con chưa thành niên. Mặt khác hiện nay anh đang có thu nhập ổn định bằng việc làm trang trại và chăn nuôi, đủ điều kiện vật chất để chăm lo cho con chung. Quan điểm của anh cũng hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của hai cháu xin được ở với anh nếu bố, mẹ ly hôn. Bản thân chị Liên hiện không có mặt tại địa phương và có quan điểm về việc chăm sóc và nuôi dưỡng con chung sau ly hôn. Do vậy để tránh sáo trộn trong sinh hoạt của các cháu cần giao hai cháu cho anh Tốt tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, chấp nhận sự tự nguyện của anh Tốt không yêu cầu chị Liên phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Chị Liên được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, anh Tốt không được ngăn cản.
* Về tài sản chung, công nợ, công sức, ruộng canh tác: Anh Tốt không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy không đặt ra xem xét.
Sau này chị Liên có yêu cầu về con chung, tài sản chung, công nợ, công sức, ruộng canh tác có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và điều 84 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 4 điều 147, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/ ngày 31/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
*Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Phạm Văn Tốt được ly hôn chị Phạm Thị Liên.
*Về con chung: Giao hai con chung của vợ chồng là các cháu Phạm Thị Thùy Dương - sinh ngày 18/10/2006 và cháu Phạm Quỳnh Chi - sinh ngày 18/5/2010 cho anh Tốt được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Tốt không yêu cầu chị Liên phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, chị Liên được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, anh Tốt không được ngăn cản.
* Tài sản chung, công nợ, công sức, ruộng canh tác: Không đặt ra giải quyết.
Sau này chị Liên có yêu cầu về conm chung, tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng canh tác có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác.
* Án phí: Anh Tốt phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Tốt đã nộp tại Biên lai thu số: 008710 ngày 23/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi. Anh Tốt đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
*Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Bình Lê Văn Đỉnh
Trần Ngọc Lâm
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỦ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Phòng GĐKT và THA tỉnh. -VKSND + THADS huyện. -Người tham gia tố tụng. -UBND xã Tân Phúc - Ân Thi. -Lưu TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 29 tháng 9 năm 2017. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi - Hưng Yên. Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: *Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm *Các hội thẩm nhân dân: 1/Ông: Nguyễn Thanh Bình - Cán bộ hưu xã Đa Lộc. 2/Ông: Lê Văn Đỉnh ngày 23/5/2017 về việc xin li hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2017/QĐST- HNGĐ ngày 28/8/2017 giữa các đương sự: *Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Tốt - sinh năm 1983 (vắng mặt). *Bị đơn: Chị Phạm Thị Liên - sinh năm 1986 (vắng mặt). * Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/ Cháu Phạm Thị Thùy Dương - sinh ngày 18/10/2006. 2/ Cháu: Phạm Quỳnh Chi - sinh ngày 18/5/2010. Người đại diện hợp pháp cho các cháu: Anh Phạm Văn Tốt (bố đẻ) Đều trú tại: Cao Trai - Bắc Sơn - Ân Thi - Hưng Yên. luận tại phiên tòa, các qui định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU 1/ Về điều luật áp dụng: Khoản 4 điều 147, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/ ngày 31/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí Tòa án. Hội đồng xét xử biểu quyết 03/03 = 100% ý kiến nhất trí. Thị Liên. Hội đồng xét xử biểu quyết 03/03 = 100% ý kiến nhất trí. Thùy Dương - sinh ngày 18/10/2006 và cháu Phạm Quỳnh Chi - sinh ngày 18/5/2010 cho anh Tốt được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Tốt không yêu cầu chị Liên phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, chị Liên được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, anh Tốt không được ngăn cản. Hội đồng xét xử biểu quyết 03/03 = 100% ý kiến nhất trí. quyết. ruộng canh tác có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác. Hội đồng xét xử biểu quyết 03/03 = 100% ý kiến nhất trí. số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Tốt đã nộp tại Biên lai thu số: 008710 ngày 23/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi. Anh Tốt đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Hội đồng xét xử biểu quyết 03/03 = 100% ý kiến nhất trí. kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Hội đồng xét xử biểu quyết 03/03 = 100% ý kiến nhất trí. Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 20 phút ngày 29 tháng 9 năm 2017. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thanh Bình Lê Văn Đỉnh | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Lâm CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - Bí thư huyện đoàn. Tiến hành nghị án đối với vụ án dân sự thụ lý số: 145/2017/TLST-HNGĐ Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh Áp dụng điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và điều 84 Luật hôn nhân gia đình. 2/Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Phạm Văn Tốt được ly hôn chị Phạm 3/Về con chung: Giao hai con chung của vợ chồng là các cháu Phạm Thị 4/Tài sản chung, công nợ, công sức, ruộng canh tác: Không đặt ra giải Sau này chị Liên có yêu cầu về con chung, tài sản chung, công sức, công nợ, 5/ Án phí: Anh Tốt phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 6/Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơ vắng mặt tại phiên tòa được quyền Biên bản đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Lâm |