- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/HS-ST Ngày 26/01/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ và bà Nguyễn Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cường Dũng, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2017/TLST - HS ngày 26 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:33/2018/QĐXXST
- HS ngày 12 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức L, sinh năm 1988 tại huyện QV, tỉnh BN.
Nơi cư trú: Thôn T.Ổ, xã MĐ, huyện QV, tỉnh BN.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1954 và bà Đào Thị N, sinh năm 1955; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Đào Thị Minh L, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam bị Ban Thường vụ Huyện ủy QV xóa tên trong danh sách đảng viên tại Quyết định số 94 - QĐ/HU ngày 05/10/2011.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/11/2017 chuyển tạm giam ngày 24/11/2017 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BN, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức L là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ, ngày 21/11/2017, L đang ở nhà thì có T đến cổng gọi L (T là bạn bè quen biết xã hội với L, L không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của T ở đâu) nói “Có lấy đồ không? Đưa tiền đây”, L hiểu ý là có lấy ma túy không. L nói “có” và đưa cho T 200.000 đồng, T cầm tiền và hẹn L khoảng 30 phút sau lên quán cà phê ở đường đôi thôn MD để lấy ma túy, L đồng ý. Khoảng 30 phút sau, L đi lên quán cà phê ở đường đôi thôn MD, xã PM thì xuống xe. L thấy T đang đỗ xe máy Yamaha Sirius màu trắng ở gần quán cà phê. Sau đó, T đèo L đi đến khu vực chợ thôn MD thì xuống xe. T đưa cho L một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White House màu vàng, bên trong có một túi nilon màu trắng bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng và bảo L đứng chờ sẽ có người đến đón. L biết đó là ma túy cần mua nên cầm tại lòng bàn tay phải còn T đi đâu L không biết. Cùng lúc đó lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vặt chứng theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Nguyễn Đức L 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White House màu vàng bên trong có một túi nilon màu trắng bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 08/KLGĐ-PC54 ngày 21/11/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN, kết luận:“Chất dạng tinh thể màu trắng trong một gói giấy bạc màu trắng có trọng lượng là 3,056 gam; là ma túy; loại ma túy chất: Methamphetamine”.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QV, Nguyễn Đức L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 04/CTr-VKS ngày 22/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện QV đã truy tố Nguyễn Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015).
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện QV đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện QV thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội xử phạt: Nguyễn Đức L từ 15 đến 20 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2017. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư nguyên có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN.
Bị cáo Nguyễn Đức L nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức L tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 18 giờ 10 phút, ngày 21/11/2017, tại khu vực chợ thôn MD, xã PM, huyện QV, tỉnh BN; Nguyễn Đức L đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng là 3,056 gam ma túy: chất Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng công an phát hiện và bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật, niêm phong theo quy định.
Như vậy, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, vì thoả mãn nhu cầu lợi ích cho bản thân mà bị cáo đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa huyện Quế Võ. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội và bố đẻ là Nguyễn Đức C được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng, thuộc diện người khuyết tật nặng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định hướng có lợi cho bị cáo. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ đi thời gian chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông tên T đã bán ma túy cho L ngày 21/11/2017 (theo lời khai của L), L không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QV tách ra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt:
Nguyễn Đức L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2017. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2017 giữa Công an huyện QV với Chi cục Thi hành án dân sự huyện QV).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh BN; - VKS, CA,THADS huyện QV; - Sở Tư pháp tỉnh BN; - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; - UBKT huyện ủy QV; - Đảng ủy xã MĐ; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Văn Đại |