vanban.org

Bản án 35/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu M phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu M 06 (sáu) tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 25/5/2022. Giao bị cáo Phạm Hữu M cho Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM HỮU M - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu M phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 35/2022/HSST
Ngày 25 tháng 5 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Hiến và ông Nguyễn Văn Tăng

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N tham gia phiên toà: Bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên

Ngày 25/5/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2022/HSST ngày 18/04/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 35/2022/QĐXX- ST ngày 10 tháng 05 năm 2022, đối với bị cáo:

Phạm Hữu M (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1995; tại xã G, huyện V, tỉnh N; nơi cư trú thôn P, xã G, huyện V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Ả và bà Bùi Thị N; có vợ Phạm Ánh N và có 03 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/01/2022 đến ngày 29/01/2022 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Phạm Ánh N, sinh năm 1996; Nơi cư trú: thôn P, xã G, huyện V, tỉnh N. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

Anh Phạm Văn L, anh Nguyễn Văn L. (Đều vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 23/01/2022, Phạm Hữu M điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35B2-***** đi từ nhà tại thôn P, xã G, huyện V đến khu vực đường đê giáp danh giữa xã M, huyện V với xã T, huyện Q, để tìm mua pháo hoa nổ về đốt dịp tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. Khi đến nơi, M thấy một nam thanh niên đang đứng một mình nên đến gần và hỏi mua 03 bệ pháo. M lấy số tiền 1.500.000 đồng đưa cho nam thanh niên. Người này cầm tiền và dẫn M đi khoảng 100m về phía xã M, huyện V rồi chỉ một bao tải màu trắng để ở ven đê. Sau đó, M bê bao tải đựng pháo nổ đặt tại vị trí chỗ để chân của xe mô tô, rồi điều khiển xe mô tô quay về. Hồi 21 giờ 40 phút cùng ngày, khi M đi đến khu vực bến phà Đ, thuộc địa phận xã L thì gặp Tổ công tác của Công an huyện V làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. M đã tự nguyện giao nộp bao tải màu trắng bên trong đựng pháo nổ mà M vừa mua để đốt cho lực lượng Công an. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, bên trong có 01 thùng bìa carton màu vàng kích thước (48,5 x 30 x 30) cm, bên trong thùng bìa đựng 03 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, đều có kích thước (22 x 12,5 x 19) cm, bốn mặt của mỗi khối được bọc bằng giấy in hoa văn nhiều màu sắc, một mặt được bọc bằng giấy bóng màu vàng, mặt còn lại được bọc bằng giấy màu trắng. Cân xác định khối lượng 03 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm nêu trên thu giữ của Phạm Hữu M, kết quả: Mỗi khối hình hộp chữ nhật đều có khối lượng là 2,2 kg. Lấy mẫu giám định ký hiệu từ M1 đến M3, để gửi đi trưng cầu giám định trọng lượng và chất nổ. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Mạnh 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35B2-***** và số tiền 200.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 168/KLGĐ-PC09-ChN ngày 28/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:

- 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật bọc bằng giấy ký hiệu M1, M2 và M3 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ).

- Khối lượng của hộp pháo nổ ký hiệu M1 là 2,210 kg; M2 là 2,245 kg và M3 là 2,215 kg. Tổng khối lượng của 03 hộp pháo nổ ký hiệu M1, M2 và M3 gửi tới giám định là 6,67 kg (sáu phẩy sáu mươi bảy kilôgam).

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 03 hộp pháo nổ ký hiệu từ M1, M2 và M3 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại của hộp pháo ký hiệu M1 là 2,112 kg; M2 là 2,151 kg và M3 là 2,129 kg.

Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-GV ngày 18/04/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Phạm Hữu M ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N để xét xử về tội “Tàng trữ hàng cấm”, theo điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Hữu M phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hữu M từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Hữu M cho Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa carton niêm phong ghi số 168/KLGĐ-PC09-ChN ngày 28/01/2022 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N bàn giao, bên trong gồm: 03 hộp pháo nổ ký hiệu từ M1, M2 và M3 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại của hộp pháo ký hiệu M1 là 2,112 kg; M2 là 2,151 kg và M3 là 2,129 kg; 01 thùng bìa carton niêm phong dán kín, bên trong gồm: 01 bao tải màu trắng, 01 thùng bìa carton màu vàng kích thước (48,5 x 30 x 30) cm, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Trả lại bị cáo Phạm Hữu M số tiền 200.000 đồng, là số tiền không liên quan đến việc phạm tội, nhưng vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hữu M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Phạm Ánh N trong quá trình điều tra trình bày: Chị là vợ của Phạm Hữu M, ngày 23/01/2022 Phạm Hữu M sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 35B2-***** của gia đình để làm phương tiện đi lại. Chị không biết Phạm Hữu M sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi mua pháo nổ, sau khi vụ án xảy ra chị mới biết. Hiện nay, chị N đã được cơ quan Công an trả lại chiếc xe mô tô nêu trên và không có ý kiến gì.

Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Phạm Hữu M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 40 phút ngày 23/01/2022, tại khu vực bến phà Đ, thuộc địa phận xã L, huyện V, bị cáo Phạm Hữu M có hành vi cất giấu trái phép 6,67 kilôgam pháo hoa nổ, nhằm mục đích để đốt vào dịp tết nguyên đán 2022 thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…;

c, Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

…

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

. Hành vi của bị cáo Phạm Hữu M đã nêu trên là phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, kinh doanh một số loại hàng cấm, mà còn xâm hại đến nền kinh tế quốc dân, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Hữu M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bản thân bị cáo Phạm Hữu M tàng trữ pháo nhằm mục đích để đốt, không mang tính vụ lợi, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 thùng bìa carton niêm phong ghi số 168/KLGĐ-PC09-ChN ngày 28/01/2022 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N bàn giao, bên trong gồm: 03 hộp pháo nổ ký hiệu từ M1, M2 và M3 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại của hộp pháo ký hiệu M1 là 2,112 kg; M2 là 2,151 kg và M3 là 2,129 kg; 01 thùng bìa carton niêm phong dán kín, bên trong gồm: 01 bao tải màu trắng, 01 thùng bìa carton màu vàng kích thước (48,5 x 30 x 30) cm, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Phạm Hữu M, là tài sản hợp pháp của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Đối với xe mô tô Biển kiểm soát 35B2-***** thu giữ của Phạm Hữu M, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản của chị Phạm Ánh N (là vợ của M). Ngày 23/01/2022, M sử dụng xe mô tô để đi mua pháo nổ, chị N không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại xe mô tô trên cho chị N là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán trái phép pháo nổ cho Phạm Hữu M ngày 23/01/2022 (theo lời khai của M). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không xác định được. Do đó, không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu M phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Phạm Hữu M 06 (sáu) tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 25/5/2022.

Giao bị cáo Phạm Hữu M cho Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa carton niêm phong ghi số 168/KLGĐ-PC09-ChN ngày 28/01/2022 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N bàn giao, bên trong gồm: 03 hộp pháo nổ ký hiệu từ M1, M2 và M3 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại của hộp pháo ký hiệu M1 là 2,112 kg; M2 là 2,151 kg và M3 là 2,129 kg; 01 thùng bìa carton niêm phong dán kín, bên trong gồm: 01 bao tải màu trắng, 01 thùng bìa carton màu vàng kích thước (48,5 x 30 x 30) cm, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Trả lại bị cáo Phạm Hữu M số tiền 200.000 đồng, là số tiền không liên quan đến việc phạm tội, nhưng vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. (Số tiền trả lại cho bị cáo gửi tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/03/2022, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Phòng Kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh N và ngày 19/4/2022, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Phạm Hữu M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ