vanban.org

Bản án 35/2026/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 04/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đinh Xuân L1 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-9-2025.

Xử phạt bị cáo Đinh Anh C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-11-2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong ký hiệu “A1” bên trong có 01 than… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T Cùng đồng Phạm Giêt người và Sử dụng... - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đinh Xuân L1 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-9-2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2026/HS-ST
Ngày 04 - 02 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Anh Tuấn

Thẩm phán:

Ông Chu Thái Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Tu - Nguyên là giáo viên Trường trung học cơ sở; Ông Đinh Văn Tuyển và Ông Chu Văn Kiêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ninh Thị Thanh Phương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Đinh Văn T, sinh năm 2004; giới tính: Nam; Số CCCD: 044204000238, cấp ngày 20/02/2024, nơi cấp: Cục C3 về TTXH- Bộ C4; nơi cư trú: thôn B, xã K, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Đinh Văn T1 (đã chết) và Đinh Thị Thu L; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 08/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (cũ) xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 BLHS. Bị cáo chấp hành án xong ra trại ngày 24/02/2023. Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ từ ngày 17/04/2025, đến ngày 25/4/2025 áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh N (có mặt).

2. Đinh Xuân L1, sinh năm 1997; giới tính: Nam; Số CCCD: 044097002567, cấp ngày 24/3/2025, nơi cấp: Bộ C4; nơi cư trú: thôn Đ, xã K, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Đinh T2 (đã chết) và bà Đinh Thị Thanh H, vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: (1) Ngày 08/5/2017, bị Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.250.000 đồng về hành vi “Đánh nhau, cố ý làm hư hỏng tài sản”. Bị cáo đã thi hành xong vào ngày 13/5/2017. (2) Ngày 15/9/2025 bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS. Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ từ ngày 17/4/2025 đến ngày 26/4/2025 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Ngày 13/9/2025 bị áp dụng biện pháp tạm giam theo Lệnh tạm giam số 1741/LTG-CSMT của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q. Bị cáo Đinh Xuân L1 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Q (có mặt).

3. Đinh Anh C, sinh ngày 11/3/2008; giới tính: Nam; Số CCCD: 004208006464, cấp ngày 19/4/2022; nơi cấp: Cục C3 về TTXH - Bộ C4; Nơi cư trú: thôn L, xã K, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Đinh Minh G và bà Đinh Thị B; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ từ ngày 17/04/2025 đến ngày 26/4/2025 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Ngày 13/11/2025, bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh N (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn T theo chỉ định: Ông Lý Đức Thành N - Luật sư, Công ty L3 và Cộng sự thuộc đoàn luật sư tỉnh N (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Xuân L1 theo chỉ định: Ông Nguyễn Văn C1 - Luật sư, Công ty L4 thuộc đoàn luật sư tỉnh N (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Anh C: ông Nguyễn Đình T3, Luật sư - Công ty L4, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người bào bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đinh Anh C theo chỉ định: Bà Trần Thị Kim H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

- Bị hại: Anh Bùi Văn N1, sinh năm 2004; nơi cư trú: xóm Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

- Người làm chứng: anh Bùi Văn T4, sinh năm 2002, anh Cao Giong G1, sinh

năm 2007; chị Quách Thị D, sinh năm 1984; anh Bùi Văn C2, sinh năm 1992.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đinh Văn T, sinh năm 2004, hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã K, tỉnh Quảng Trị; Đinh Anh C, sinh năm 2008 và Cao Giong G1, sinh năm 2007 cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã K, tỉnh Quảng Trị; Đinh Xuân L1, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã K, tỉnh Quảng Trị, làm công nhân khu công nghiệp C và thuê nhà trọ tại khu vực tổ H, phường P, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/4/2025, T, C, G1 và L1 ngồi uống bia tại quán B2 thuộc tổ H, phường P, tỉnh Ninh Bình. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi uống bia xong, trên đường về phòng trọ thì nhóm của L1 gặp Bùi Văn N1, sinh năm 2004, hộ khẩu thường trú tại xóm Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ và Bùi Văn T4, sinh năm: 2002, hộ khẩu thường trú tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ đứng ở vệ đường. Khi nhóm của L1 đi qua thì N1 nói: “Bọn bay nói xấu tao hay cà khịa tao”, L1 nói: “Tao có nói gì đâu”, ngay sau đó N1 chạy vào quán bia cầm 01 chiếc ghế gỗ loại không có tựa lưng từ quán bia chạy ra, giơ ghế lên định đánh L1 thì T4 can ngăn. Lúc này, L1 nói với T: “T về phòng lấy đồ cho anh”. T và C nghe thấy, hiểu ý L1 nói về phòng lấy hung khí để đánh nhau nên cùng chạy về phòng trọ của T (phòng trọ của T cách vị trí xô xát khoảng 30 mét). Về tới phòng trọ, T mở ngăn bên phải tủ quần áo, lấy 01 con dao, dạng dao bấm bằng kim loại, có tổng chiều dài 20cm, phần lưỡi dao dài 9,1cm, bản rộng nhất là 1,85cm, đầu lưỡi dao vát nhọn, phần chuôi dao một mặt màu đỏ, chạy ra đứng bên trái N1. T dùng tay trái túm giữ áo trước bụng N1, tay phải bấm lưỡi dao ra (ngón cái cầm chuôi dao, ngón út tiếp giáp phần lưỡi dao gắn chuôi dao) đâm 03 (ba) nhát liên tục theo hướng từ trên xuống dưới, chếch từ phải sang trái trúng vào lưng N1 gây vết thương thấu ngực và đâm 02 (hai) nhát theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải sang trái trúng vào tay trái của N1. Cùng lúc này, C dùng tay trái nhặt một thanh kim loại inox hình chữ nhật dài 113cm, bên trong rỗng, vụt một nhát từ trên xuống dưới trúng vào vai phải, một nhát từ trái sang phải trúng vào hông bên phải N1, sau đó dùng tay chân đấm đá vào người N1. Đinh Xuân L1 cùng lao vào dùng hai tay đấm liên tiếp nhiều nhát vào đầu của N1. N1 bỏ chạy vào bên trong quán B3-a thì bị L1, T, C đuổi theo; C cầm thanh kim loại vụt một nhát về phía N1 nhưng trượt nên bị ngã làm thanh kim loại gãy gập, L1 dùng tay trái lấy thanh kim loại từ tay Chí đuổi đánh N1 thì T4 can ngăn. Thấy C, T, L1 đuổi đánh N1 thì Bùi Văn C2, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú tại xóm K, xã H, tỉnh Phú Thọ lấy gậy Bi-a ở quán V để đuổi L1, C và T. Lãm, C và T bỏ chạy ra ngoài quán B1-a thì C2 đuổi theo dùng tay trái cầm gậy B1-a vụt một nhát vào vùng vai, gáy và một nhát vào tay phải T. Lúc này được mọi người can ngăn nên không tiếp tục đánh nhau nữa, T, C, L1 đi về phòng trọ.

Anh Bùi Văn N1 bị thương được người nhà đưa vào Bệnh viện Đ, tỉnh Ninh Bình cấp cứu, sau đó chuyển lên Bệnh viện H3 tiếp tục điều trị, T bị thương tích nhẹ bầm tím vai trái, tay phải.

Sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập các tài liệu chứng cứ làm rõ vụ án.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ án xảy ra ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại đường P thuộc tổ H, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là phường P, tỉnh Ninh Bình). Đoạn đường xảy ra vụ án Phía Bắc tiếp giáp với quán B3-a và quán bia của nhà anh Nguyễn Tiến L2, sinh năm 1973, trú tại phường P, tỉnh Ninh Bình. Phía Nam tiếp giáp với tạp hóa Quỳnh H2 và Phòng trực an ninh trật tự tổ H.

Tại vị trí phía trên góc tường phía T quán B3-a của anh L2 có lắp đặt 01 camera, hướng quan sát ra cửa, chiều cao cách nền 2,7m. Tương ứng với vị trí phía trên cửa lùa phía Bắc thông từ quán B3-a sang quán bia có lắp đặt 01 camera, hướng quan sát trong khu vực quán, chiều cao cách nền 2,8m.

* Ngày 18/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh ra Quyết định trưng cầu giám định số: 1916/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Trung tâm Giám định y khoa và Pháp y tỉnh H (nay là tỉnh Ninh Bình) giám định thương tích đối với anh Bùi Văn N1. Ngày 23/4/2025, Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H đã có Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 62/KLTTCT-TTGĐYK&PY kết luận:

1. Các kết quả chính: 05 vết rách da nhỏ; 02 vết sây sát da; 02 vết rạch dẫn lưu còn ống dẫn lưu.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn N1 tại thời điểm giám định là 05% (năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Các vết rạch dẫn lưu, sây sát da, tổn thương khác và di chứng (nếu có), khi Bùi Văn N1 điều trị ổn định ra viện, đề nghị Q cơ quan cung cấp đủ bệnh án điều trị và trưng cầu giám định bổ sung.

- Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: rách da do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên, sây sát da do vật có cạnh tác động trực tiếp gây nên; không xác định được chiều hướng.

* Ngày 02/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh ra Quyết định trưng cầu giám định Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H (nay là tỉnh Ninh Bình) giám định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra và cơ chế hình thành thương tích gây nên đối với Bùi Văn N1. Ngày 11/6/2025, Trung tâm G đã có Bản kết luận số 105/KLTTCT-TTGĐYK&PY đối với Bùi Văn N1, kết luận:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 34%. Cơ chế hình thành thương tích vết thương thấu ngực và các vết rách da do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên; vết thương vai phải và bả vai trái do vật có cạnh tác động trực tiếp gây nên; không xác định được chiều hướng.

* Ngày 05/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra Công văn số 1190/CSHS đề nghị Bệnh viện đa khoa Hà Nam tỉnh Đ đánh giá, xác định các vết thương do thương tích gây nên trên nạn nhân Bùi Văn N1, nếu không được cấp cứu kịp thời có ảnh hưởng đến tính mạng không?

Ngày 07/10/2025, Bệnh viện Đ, tỉnh Ninh Bình có Công văn trả lời số 1440/BVĐKHN trả lời với nội dung: Người bệnh có đa vết thương trong đó có vết thương thấu ngực gây tràn dịch, tràn khí màng phổi, tổn thương nhu mô phổi phải là một tình trạng nặng, có nguy cơ suy hô hấp, trụy tim mạch nếu không được cấp cứu kịp thời.

* Ngày 05/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định số: 3341/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh N giám định thương tích đối với Đinh Văn T. Ngày 11/6/2025, Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H đã Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống số: 109/KLTTCT-TTGĐYK&PY kết luận:

+ Loại hình tổn thương trên không để lại di chứng, không quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần nên không có căn cứ pháp lý xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Đinh Văn T.

+ Tỷ lệ từng thương tích: Bầm đỏ vai trái và tím đỏ cánh tay phải, không để lại di chứng: không có căn cứ pháp lý xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.

* Ngày 23/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định số: 397/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định vũ khí đối với con dao mà Đinh Văn T sử dụng để gây thương tích cho anh Bùi Văn N1.

Ngày 01/8/2025, Phòng K Công an tỉnh N ra Kết luận giám định số: 143/KTHS, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là dao bấm, thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C4 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Khi sử dụng mẫu vật gửi giám định thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người trái pháp luật có thuộc vũ khí quân dụng không do Cơ quan trưng cầu nghiên cứu, áp dụng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội.

Tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án:

+ Đối với Bùi Văn N1 có hành vi chửi nhau với L1, tuy nhiên không có hành vi tấn công đánh nhau gây mất trật tự công cộng, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N không có biện pháp xử lý.

+ Đối với Bùi Văn C2, khi thấy các đối tượng đuổi đánh anh N1 đã sử dụng gậy bi a vụt vào vùng vai và tay của Đinh Văn T. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trưng cầu giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với T. Tại Bản kết luận giám định 109/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 12/6/2025 của Trung tâm giám định Pháp y và Y khoa tỉnh H (cũ), kết luận các dấu vết bầm tím không để lại di chứng không có căn cứ xếp tỉ lệ tổn thương cơ thể, do đó không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với C2. Phòng K Công an tỉnh N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với C2, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/NĐ-CP của Chính Phủ.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã thu giữ: 01 con dao, dạng dao bấm, bằng kim loại dài 20cm, phần lưỡi dài 9,1cm, bản rộng nhất 1,85cm, có một cạnh sắc, mũi nhọn; 01 thanh kim loại sáng màu dài 113cm, dạng hộp rỗng có kích thước (1,9x1)cm, vị trí giữa thanh kim loại bị dập gẫy; 03 đoạn gậy bi-a bằng gỗ, trong đó có một đoạn dài 16cm, một đoạn dài 35cm và một đoạn dài 27cm.

Toàn bộ số vật chứng nêu trên đều là công cụ, phương tiện các đối tượng sử dụng để đánh nhau, không còn giá trị sử dụng nên cần phải tịch thu tiêu hủy. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị can Đinh Văn T, Đinh Xuân L1 và Đinh Anh C đã tác động và cùng gia đình bồi thường cho người bị hại tổng số tiền 129.000.000 đồng (mỗi bị can bồi thường 43.000.000 đồng). Bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 66/CT-VKS-P2 ngày 31 tháng 12 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “Giết người” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; các bị cáo Đinh Xuân L1, Đinh Anh C về tội “Giết người”.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 15; Điều 57; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội: “Giết người” và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 13 đến 14 năm tù về tội “Giết người”, và từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành chung là từ 14 năm 03 tháng đến 15 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Xuân L1.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 120, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với Đinh Anh C.

Tuyên bố các bị cáo Đinh Xuân L1, Đinh Anh C phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Đinh Xuân L1 từ 13 năm đến 14 năm tù về tội “Giết người”, xử phạt bị cáo Đinh Anh C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Xuân L1, Đinh Anh C đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại Bùi Văn N1 số tiền 129.000.000 đồng (mỗi bị cáo 43.000.000 đồng). Anh Bùi Văn N1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng, án phí theo qui định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn T trình bày: Sự việc xảy ra một phần do lỗi của bị hại nên đề nghị HĐXX tuyên hình phạt thấp nhất đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Xuân L1 trình bày: Hậu quả xảy ra do bị cáo T thực hiện, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị chưa hợp lý. Đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới 12 năm tù.

Những người bào chữa cho bị cáo Đinh Anh C trình bày: Bị cáo thực hiện hành vi khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo không trực tiếp gây ra hậu quả, áp dụng nguyên tắc xét xử đối với người dưới 18 tuổi, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là quá nặng. Đề nghị HĐXX quyết định hình phạt thấp hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Q1 Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơquan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Xuân L1, Đinh Anh C khai nhận diễn biến hành vi như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; Biên bản kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 15/4/2025; Bản ảnh hiện trường và Biên bản thu giữ vật chứng, đồ vật liên quan đến vụ án; các bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sơ kết luận: Khoảng 22 ngày 15/4/2025, tại tổ H, phường P, tỉnh Ninh Bình. Đinh Xuân L1, Đinh Văn T và Đinh Anh C sau khi uống bia rượu đi về phòng trọ, thì L1 phát sinh mâu thuẫn với Bùi Văn N1. L1 nói với T về lấy hung khí để đánh nhau với anh N1. Nghe thấy L1 nói thì T đã chạy về phòng trọ của T, C cùng chạy theo. T vào phòng trọ của mình lấy một con dao bấm bằng kim loại có tổng chiều dài 20cm, phần lưỡi dao dài 9,1cm, bản rộng nhất là 1,85cm, đầu lưỡi dao vát nhọn (là loại dao có tính sát thương cao). Sau đó chạy ra tay trái túm giữ áo N1, tay phải cầm dao bật lưỡi dao đâm liên tục 03 nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng lưng gây ra vết thương thấu ngực, T tiếp tục đâm 02 nhát theo chiều từ trên xuống dưới, từ trái sang phải trúng vào vùng tay trái của anh N1. Khi T tấn công đánh N1 thì Chí nhặt một thanh kim loại cùng với L1 xông vào dùng thanh kim loại vụt và dùng tay chân tấn công đánh N1. Sau khi bị đâm và bị đánh N1 đã bỏ chạy vào quán bi-a, thì T, C, L1 tiếp tục đuổi theo để đánh N1, bị mọi người can ngăn nên không tiếp tục tấn công đánh N1 nữa. Hậu quả anh Bùi Văn N1 bị vết thương thấu ngực và các vết thương rách da do vật sắc nhọn tác động, bị tổn thương cơ thể 34%, anh N1 không chết là do được cấp cứu kịp thời.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Xuân L1, Đinh Anh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Đinh Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 304 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Xuân L1 và Đinh Anh C không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; đã tích cực tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại số tiền 129.000.000 đồng (mỗi bị cáo 43.000.000 đồng). Do đó, các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại là khách thể đặc biệt được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo Đinh Văn T là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tộ “Cố ý gây thương tích” đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn coi thường pháp luật, tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Bị cáo Đinh Xuân L1 là người có nhân thân xấu bị Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt 3.250.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” đã chấp hành xong, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn coi thường pháp luật, tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Bị cáo Đinh Anh C tham gia với vai trò đồng phạm. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên khi quyết định hình phạt HĐXX áp dụng Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Xét tính chất mức độ hành vi của các bị cáo, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Xuân L1, Đinh Anh C đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại Bùi Văn N1 số tiền 129.000.000 đồng (mỗi bị cáo 43.000.000 đồng). Anh Bùi Văn N1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ của các bị cáo dùng vào việc phạm tội gồm: 01 con dao, dạng dao bấm, bằng kim loại dài 20cm, phần lưỡi dài 9,1cm, bản rộng nhất 1,85cm, có một cạnh sắc, mũi nhọn; 01 thanh kim loại sáng màu dài 113cm, dạng hộp rỗng có kích thước (1,9x1)cm, vị trí giữa thanh kim loại bị dập gẫy; 03 đoạn gậy bi-a bằng gỗ, trong đó có một đoạn dài 16cm, một đoạn dài 35cm và một đoạn dài 27cm.

Về các tình tiết khác liên quan đến vụ án:

- Đối với Bùi Văn N1 có hành vi chửi nhau với L1 nhưng không có hành vi tấn công đánh nhau gây mất trật tự công cộng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N không có biện pháp xử lý.

- Đối với Bùi Văn C2, khi thấy các đối tượng đuổi đánh anh N1 đã sử dụng gậy bi a vụt vào vùng vai và tay của Đinh Văn T. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trưng cầu giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với T. Tại Bản kết luận giám định 109/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 12/6/2025 của Trung tâm giám định Pháp y và Y khoa tỉnh H (cũ), kết luận các dấu vết bầm tím không để lại di chứng không có căn cứ xếp tỉ lệ tổn thương cơ thể, do đó không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với C2. Phòng K Công an tỉnh N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với C2, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/NĐ-CP của Chính Phủ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304 điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 57; Điều 55 của Bộ luật Hình. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Giết người” và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 14 (mười bốn) năm tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đinh Văn T phải chấp hành chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17-04-2025.

2. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 57 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Xuân L1; Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 57 của Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 120, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Đinh Anh C; Tuyên bố các bị cáo Đinh Xuân L1, Đinh Anh C phạm tội “Giết người”;

- Xử phạt bị cáo Đinh Xuân L1 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-9-2025.

- Xử phạt bị cáo Đinh Anh C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-11-2025.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong ký hiệu “A1” bên trong có 01 thanh kim loại sáng màu dài 113cm, dạng hộp rỗng có kích thước (1,9x1)cm, vị trí giữa thanh kim loại bị gập, gãy một nữa, nhiều vị trí trên thanh kim loại bị bóp méo; 03 đoạn gậy bi-a bằng gỗ, trong đó có một đoạn dài 16cm, bọc nilong màu đỏ đen; 01 đoạn dài 35cm và 01 đoạn dài 27cm; 01 túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 23049617 bên trong túi niêm phong có 01 con dao, dạng dao bấm, bằng kim loại dài 20cm, phần lưỡi dài 9,1cm, bản rộng nhất 1,85cm, có một cạnh sắc, mũi nhọn. (Chi tiết như biên bản bàn giao vật chứng ngày 06/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Xuân L1, Đinh Anh C mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ