vanban.org

Bản án 35/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T, cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm H.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Quốc B, sinh ngày 13/6/2015 và Trần Gia H, sinh ngày 20/12/2016 cho ông Trần Văn T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do ông T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà Nguyễn Thị Cẩm H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T, cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35 /2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2026
V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ánh Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lệ Hoa

2. Ông Hà Ứng Cương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Thăng- Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về "Tranh chấp ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2026/QĐST- HNGĐ, ngày 07 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp A, xã B, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1999

Địa chỉ: Ấp H, xã Th, tỉnh An Giang.

(Ông T có mặt tại phiên tòa, bà H vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:

Vào năm 2014 ông cùng với bà Nguyễn Thị Cẩm H có chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang. Về con chung: có 02 con chung tên Trần Quốc B, sinh ngày 13/6/2015 và Trần Gia H, sinh ngày 20/12/2016. Về tài sản chung và nợ chung, vợ chồng ông không có.

Qua thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả, sống không hòa hợp nên đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay.

Do đó, tại phiên toà ông có yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm H;

Về con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Quốc B, sinh ngày 13/6/2015 và Trần Gia H, sinh ngày 20/12/2016, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con;

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H: Đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự quy định nhưng bà Nguyễn Thị Cẩm H vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của bị đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm H nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp xin ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp H, xã Th, tỉnh An Giang nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, tại phiên tòa ông Trần Văn T đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

[2] Về hôn nhân: Vào 2014, ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Cẩm H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang, do đó quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Cẩm H là hợp pháp.

Theo lời trình bày của ông Trần Văn T, trong thời gian đầu chung sống, ông và bà Nguyễn Thị Cẩm H có thời gian hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, nên đã ly thân từ năm 2019. Tại phiên tòa, ông Trần Văn T xác định hiện nay không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị Cẩm H và kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Cẩm H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Văn T đối với bà Nguyễn Thị Cẩm H theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Cẩm H có 02 con chung tên Trần Quốc B, sinh ngày 13/6/2015 và Trần Gia H, sinh ngày 20/12/2016. Ông yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay các cháu đều do ông T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao 02 cháu Trần Quốc B, sinh ngày 13/6/2015 và Trần Gia H, sinh ngày 20/12/2016 cho ông Trần Văn T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Trần Văn T không yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Văn T trình bày trong quá trình chung sống, ông và bà Nguyễn Thị Cẩm H không có tài sản chung, cũng như không phát sinh nợ chung, do đó ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nội dung này đã được thông báo cho bà Nguyễn Thị Cẩm H trong Thông báo thụ lý vụ án, tuy nhiên cho đến nay bị đơn không có ý kiến phản đối hay đưa ra yêu cầu nào khác, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Trần Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T, cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm H.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Quốc B, sinh ngày 13/6/2015 và Trần Gia H, sinh ngày 20/12/2016 cho ông Trần Văn T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do ông T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Nguyễn Thị Cẩm H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Ông Trần Văn T phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003596 ngày 09/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - An Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ