- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Hoàng V - Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hoàng V đối với bà Nguyễn Thị T về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2026/HNGĐ-ST Ngày: 30-3-2026 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Hải
2. Bà Trần Thị Lệ
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 73/2026/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2026/QĐST – HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Hoàng V, sinh ngày 02/11/1997 (có mặt).
CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 12/6/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: Khu phố E, phường T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 24/3/1997 (có đơn xin vắng mặt).
CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: Khu phố E, phường T, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Phạm Hoàng V trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa) vào ngày 21/12/2017.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến nhau. Nay ông V nhận thấy không còn tình cảm với bà T nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T. Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung là Phạm Hoàng Khải M, sinh ngày 28/4/2014, hiện nay cháu M đang sống với ông V. Ông có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu M đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T thống nhất với ý kiến của ông V về điều kiện kết hôn, chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Ông V yêu cầu ly hôn thì bà đồng ý.
Về con chung: Bà và ông T1 có 01 con chung là Phạm Hoàng Khải M, sinh ngày 28/4/2014. Bà T đồng ý giao cháu M cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
. Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, xác định quan hệ pháp luật vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T.
. Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp đã có đủ cơ sở xác định: Ông Phạm Hoàng V và bà Nguyễn Thị T tự nguyện xây dựng gia đình với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa) vào ngày 21/12/2017 nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp.
Xét về quan hệ hôn nhân của ông V, bà T: Ông V xác định vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên thường xuyên cãi vã. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến nhau. Bà T cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng như trên và đồng ý với yêu cầu ly hôn của ông V.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông V, bà T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông V, bà T đều thống nhất thuận tình ly hôn. Do đó, áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, ghi nhận sự thuận tình ly hôn của ông V, bà T.
Về con chung: Ông V, bà T có 01 con chung là Phạm Hoàng Khải M, sinh ngày 28/4/2014, ông V yêu cầu được nuôi dưỡng cháu M đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Xét thấy: Cháu M có nguyện vọng được sống với ông V; ông V, bà T cũng thống nhất giao cháu M cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, xét nguyện vọng của cháu M, thỏa thuận của các đương sự thì cần giao cháu M cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Vũ K yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Ông Phạm Hoàng V phải nộp án phí hôn nhân và gia đình là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hoàng V đối với bà Nguyễn Thị T về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Hoàng V và bà Nguyễn Thị T thuận tình ly hôn.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Hoàng V và bà Nguyễn Thị T có 01 con chung là Phạm Hoàng Khải M, sinh ngày 28/4/2014. Giao cháu Phạm Hoàng Khải M cho ông Phạm Hoàng V trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Ông Phạm Hoàng V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008734 ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Ông Phạm Hoàng V đã nộp đủ án phí.
3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND KV12-TP.HCM; - THADS Tp. Hồ Chí Minh; - UBND xã Hoằng Tiến, tỉnh Thanh Hóa (ĐKKH số 91, ngày 21/12/2017); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thu Hiền |