vanban.org

Bản án 35/2026/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/07/2026 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/07/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 102/2026/HNGĐ - ST ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với chị Huỳnh Thị Bé H. Tiếp tục giao cháu Lê Huỳnh Thúy V – sinh ngày 23/01/2022 cho chị Huỳnh Thị Bé H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Anh T được quyền thăm nom con chung mà k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn T-Huỳnh Thị Bé H"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 102/2026/HNGĐ - ST ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau.
  • Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2026/HNGĐ-PT
Ngày 28 - 7 - 2026
V/v Tranh chấp thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán:

Bà Châu Minh Nguyệt

Ông Đặng Minh Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thuý An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2026/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 102/2026/HNGĐ - ST ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 35/2026/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Văn T - sinh năm 1984. CCCD số: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Ấp M, xã V, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Bé H - sinh năm 1992. CCCD số: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Ấp M, xã V, tỉnh Cà Mau.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày và yêu cầu:

Anh Lê Văn T và chị Huỳnh Thị Bé H đã được giải quyết ly hôn bởi Quyết định số: 17/2025/QĐCNHGT-HNGĐ ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu (Cũ). Tại Quyết định này, Tòa án đã giao cho chị H nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Lê Huỳnh Thúy V – sinh ngày 23/01/2022 và anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ, đến khi con tròn 18 tuổi.

Do sau khi ly hôn chị H chỉ chăm sóc con được thời gian ngắn, rồi chị H đi làm xa gửi con lại cho ông, bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T đến thăm con nhiều lần thì ông, bà ngoại ngăn cản không cho gặp, cũng không cho thăm, hiện tại chị Bé H không có việc làm ổn định, nên không đủ điều kiện kinh tế nuôi con; Còn anh T thì làm nghề sửa xe H1 có thu nhập ổn định, nên anh T có đủ điều kiện nuôi con hơn chị H. Do đó, anh T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với chị H, yêu cầu Tòa án giao con chung là Lê Huỳnh Thúy V – sinh ngày 23/01/2022 cho anh T nuôi.

* Ý kiến của bị đơn đối với trình bày và yêu cầu của nguyên đơn:

Chị H xác định anh T và chị H đã ly hôn như anh T trình bày là đúng. Sau khi ly hôn chị H được quyền nuôi con chung đối với con là Lê Huỳnh Thúy V – sinh ngày 23/01/2022. Từ khi được giao quyền nuôi con chị H và cháu V sống tại nhà cha, mẹ ruột của chị H. Chị H và cha, mẹ chị H không có ngăn cản anh T thăm nom con như anh T trình bày.

Do nhu cầu cuộc sống và do anh T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con như Quyết định của Tòa án, để đảm bảo đời sống cho con, chị H đã bàn bạc với cha mẹ ruột nhờ cha, mẹ hỗ trợ chị H chăm sóc cháu V, để chị H đi làm kiếm tiền nuôi con và lo cho con đi học. Hiện tại chị H nuôi con đảm bảo đúng quy định, cháu V phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nên chị H không đồng ý yêu cầu của anh T.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 102/2026/HNGĐ - ST ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, 271, 273 và 280 của; Căn cứ vào khoản 2 Điều 81, 82, 83, 84 của ; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24 và Điều 27 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với chị Huỳnh Thị Bé H.

Tiếp tục giao cháu Lê Huỳnh Thúy V – sinh ngày 23/01/2022 cho chị Huỳnh Thị Bé H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Anh T được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29/4/2026 anh Lê Văn T kháng cáo với nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, giao cháu Lê Huỳnh Thúy V cho anh T nuôi dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án thực hiện đúng theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm anh Lê Văn T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, lý do chị Huỳnh Thị Bé H hiện nay đưa cháu về nơi làm của chị H tại Bình Dương để chăm sóc nuôi dưỡng gây khó khăn trong việc thăm nom và việc chuyển nơi ở làm ảnh hưởng đến môi trường học tập của cháu.

[2] Xét kháng cáo của anh Lê Văn T thấy rằng: Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm anh Lê Văn T không đồng ý về việc chị Huỳnh Thị B Hai gửi cháu Lê Huỳnh Thúy V cho cha mẹ chị Huỳnh Thị B Hai chăm sóc hộ, hiện nay chị Huỳnh Thị Bé H đem cháu V về trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng anh Lê Văn T cũng không đồng ý. Trong khi đó, trách nhiệm, nghĩa vụ của anh Lê Văn T phải cấp dưỡng để nuôi cháu Lê Huỳnh Thúy V thì anh T không thực hiện, chưa làm tròn trách nhiệm của mình, việc chị Huỳnh Thị Bé H đưa cháu V về nơi ở của chị để sinh sống để thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V là phù hợp.

Anh Lê Văn T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm giao cháu Lê Huỳnh Thúy V cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng anh Lê Văn T không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh quá trình chị Huỳnh Thị Bé H chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lê Huỳnh Thúy V không được tốt cũng như chị Huỳnh Thị B Hai không đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Lê Huỳnh Thúy V, các lý do anh Lê Văn T nêu như đưa cháu V đi xa, cũng như thay đổi môi trường học là cản trở việc thăm con của anh T, làm xáo trộn cuộc sống của cháu V là không có căn cứ. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T.

[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T. Như nhận định trên, quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ được chấp nhận.

[4] Án phí phúc thẩm: Do anh Lê Văn T kháng cáo không được chấp nhận nên anh Lê Văn T phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 102/2026/HNGĐ - ST ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau.

Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, 148, 271, 273 và 280 của;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 81, 82, 83, 84 của ;

Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 24, Điều 27 và Điều 29 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với chị Huỳnh Thị Bé H.

Tiếp tục giao cháu Lê Huỳnh Thúy V – sinh ngày 23/01/2022 cho chị Huỳnh Thị Bé H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Anh T được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc anh Lê Văn T phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0003295 ngày 27 tháng 10 năm 2025, do Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau thu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển thu án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Huỳnh Thị Bé H không phải chịu án phí.

2. Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Buộc anh Lê Văn T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Lê Văn T đã dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005249 ngày 29/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ