vanban.org

Bản án 35/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: 1. Áp dụng các Điều 584, 585, 587 của Bộ luật dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phải bồi thường cho: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Anh Tường - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 35/2025/HS-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 15/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quí Hùng

Ông Thái Cao Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Nhật Duy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và 15 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 26/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS, ngày 17/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HS, ngày 05/5/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Anh T; sinh năm 1984 tại Tiền Giang; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang C và con bà Nguyễn Thị B; vợ tên Lê Thị Minh H (sinh năm 1989) và có 02 (hai): con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017; tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 30/5/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo chấp hành xong ngày 18/9/2024.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Trần Hoài Xuân M, sinh năm 1998, địa chỉ: TDP N, C, C, Khánh Hòa. Có mặt.

2/ Trần Thị Đ, sinh năm 1973, địa chỉ: TDP B, C, C, Khánh Hòa. Có mặt.

3/ Nguyễn Quang Q, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn L, C, C, Khánh Hòa. Có mặt.

4/ Phạm Thị Phương Thanh H1, sinh năm 2000, địa chỉ: TDP N, C, C, Khánh Hòa. Có mặt

5/ Lê Thái Trần N, sinh năm 2000, địa chỉ: TDP B, C, C, Khánh Hòa. Vắng mặt

6/ Cù Thị Mỹ H2, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn S, C, C, Khánh Hòa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Hà Xuân V, sinh năm 1996, địa chỉ: TDP B, C, C, Khánh Hòa. Có mặt.

2/ Lê Thị Minh H, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn C, C, C, Khánh Hòa. Có mặt.

3/ Lê Thái Trần C1, sinh năm 1966, địa chỉ: TDP B, C, C, Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1/ Nguyễn Văn L, sinh năm 2002, địa chỉ: TDP B, C, C, Khánh Hòa. Có mặt.

2/ Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn L, C, C, Khánh Hòa. Vắng mặt

3/ Huỳnh Tấn T1, sinh năm 1996, địa chỉ: TDP L, C, C, Khánh Hòa. Vắng mặt.

4/ Nguyễn Hoàng Thanh P, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn V, C, C, Khánh Hòa. Vắng mặt.

5/ Mấu Đinh P1, sinh năm 2000, địa chỉ: Thôn T, S, K, Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/10/2024, Nguyễn Hoàng Anh T cùng Lê Thái Trần C1, Huỳnh Tấn T1, Nguyễn Hoàng Thanh P và M1 Đinh Phan đến quán Karaoke “X" tại tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C do Hà Xuân V làm quản lý để ăn uống và hát karaoke. Tại đây, nhóm của T yêu cầu 05 nhân viên nữ phục vụ phòng hát của mình. Trong lúc hát, giữa T và Nguyễn Thị Hồng D (nữ phục vụ tại phòng hát của T) xảy ra mâu thuẫn, T dùng tay kẹp cổ D nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, T tiếp tục gây sự với Hà Xuân V và cãi nhau với Nguyễn Thị Hồng D thì được nhóm bạn can ngăn và đưa về nhà T ở thôn C, xã C, huyện C.

Về đến nhà, do nhớ lại chuyện mâu thuẫn với D tại quán K "X”, T vào nhà lấy 01 cây rựa, 01 cây rìu, 01 cây inox rồi một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario màu trắng- đen quay lại quán. Khi đến nơi, T dựng xe bên ngoài, cầm theo hung khí đi bộ vào quán K “Xuân Vinh 179” và ném cây rìu làm vỡ cửa kính trước quán rồi đi vào bên trong quầy lễ tân dùng rựa chém 01 màn hình máy tính, 01 bình hoa và 01 quạt gió. T đến trước phòng hát VIP1 dùng rựa chém vào cửa phòng làm vỡ phần cửa kính. T tiếp tục đi ra khu vực để xe dùng rựa chém làm hư hỏng 05 xe mô tô gồm: Xe Honda AirBlade biển kiểm soát 79Z1-434.85 của Trần Hoài Xuân M; xe Honda SH 125I biển kiểm soát 79C1-755.96 của Phạm Thị Phương Thanh H1; xe Honda Vario biển kiểm soát 79Z1-602.46 Nguyễn Quang Q; xe Honda Vision biển kiểm soát 79TA-028.87 của Cù Thị Mỹ H2; xe Honda Wave biển kiểm soát 79Z1-439.15 của Lê Thái Trần N. Sau đó, T điều khiển xe mô tô về nhà.

Tại Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS, ngày 15/11/2024 và Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS, ngày 19/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C xác định toàn bộ thiệt hại về tài sản gồm:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade; màu xanh - bạc - đen; biển kiểm soát 79Z1-434.85 bị thiệt hại 2.550.000 đồng.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125I; màu trắng - đen; biển kiểm soát 79C1-755.96 bị thiệt hại 7.500.000 đồng.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario; màu nâu - đen; biển kiểm soát 79Z1-602.46 bị thiệt hại 6.600.000 đồng.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision; màu trắng - đen; biển kiểm soát 79TA-028.87 bị thiệt hại 5.000.000 đồng.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave; màu xanh - đen - bạc; biển kiểm soát 79Z1-439.15 bị thiệt hại 400.000 đồng.

+ 01 cánh cửa bằng kính kích thước (02m40 x 01m x 0m12) bị vỡ hoàn toàn, bị thiệt hại 7.000.000 đồng.

+ 01 màn hình máy tính để bàn; nhãn hiệu Archtex; 17inch đã bị hư hỏng, không hoạt động được, bị thiệt hại 1.500.000 đồng.

+ 01 quạt điện nhãn hiệu Senko Model L1638; màu trắng, bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, bị thiệt hại 330.000 đồng.

+ 01 chậu hoa bằng nhựa bị bể, không còn giá trị sử dụng, bị thiệt hại 1.100.000 đồng.

+ 01 cánh cửa gỗ kích thước (02m20 x 0m80 x 0m04) ở giữa gắn tấm kính kích thước (16cm x 26cm x 05cm) bị vỡ hoàn toàn phần tấm kính, bị thiệt hại 500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản nêu trên bị thiệt hại là 32.480.000 đồng (Ba mươi hai triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

Cáo trạng số 28/CT-VKSCL ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm đã truy tố Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Tuyên buộc bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại và xử lý vật chứng theo qui định của pháp luật.

- Các bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về trách nhiệm dân sự như sau: Trần Hoài Xuân M yêu cầu bồi thường 2.350.000 đồng, Phạm Thị Phương Thanh H1 yêu cầu bồi thường 7.290.000 đồng, Nguyễn Quang Q yêu cầu bồi thường 5.680.000 đồng, Cù Thị Mỹ H2 yêu cầu bồi thường 5.560.000 đồng, Trần Thị Đ yêu cầu bồi thường 10.430.000 đồng.

Các bị hại Trần Hoài Xuân M, Nguyễn Quang Q, Trần Thị Đ đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật; bị hại Phạm Thị Phương Thanh H1 và Cù Thị Mỹ H2 đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản đúng như nội dung truy tố của bản cáo trạng. Bị cáo xác định chưa bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bị cáo xin lỗi người bị hại, đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện C - Công an tỉnh K và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Người bị hại Lê Thái Trần N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thái Trần C1 và những người làm chứng khác đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lí do tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario màu trắng - đen (không gắn biển kiểm soát), mang theo 01 cây rựa, 01 cây rìu, 01 cây inox đến quán K "X" tại tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, ném cây rìu làm vỡ cửa kính trước quán rồi đi vào bên trong quầy lễ tân dùng rựa chém 01 màn hình máy tính, 01 bình hoa và 01 quạt gió; tiếp tục đến trước phòng hát VIP1 dùng rựa chém vào cửa phòng làm vỡ phần cửa kính, đi ra khu vực để xe dùng rựa chém làm hư hỏng 05 xe mô tô của Trần Hoài Xuân M, Phạm Thị Phương Thanh H1, Lê Thái Trần N, Cù Thị Mỹ H2 và Nguyễn Quang Q. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do hành vi nêu trên của bị cáo là 32.480.000 đồng. Như vậy, Cáo trạng số 28/CT-VKSCL ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có một tiền án về tội “Tổ chức đánh bạc”, mới chấp hành xong hình phạt tù tháng 9/2024, nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin lỗi người bị hại và được người bị hại Phạm Thị Phương Thanh H1 và Cù Thị Mỹ H2 đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ thiệt hại tài sản của người bị hại là do hành vi trái pháp luật của bị cáo gây ra nên bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại này cho người bị hại.

Người bị hại Trần Hoài Xuân M yêu cầu bồi thường 2.350.000 đồng; Phạm Thị Phương Thanh H1 yêu cầu bồi thường 7.290.000 đồng; Nguyễn Quang Q yêu cầu bồi thường 5.680.000 đồng; Trần Thị Đ yêu cầu bồi thường 10.430.000 đồng. Số tiền những người bị hại nêu trên yêu cầu bị cáo phải bồi thường là nhỏ hơn số tiền thiệt hại theo Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS, ngày 15/11/2024 và Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS, ngày 19/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, nhưng đây là toàn bộ chi phí sửa chữa thực tế đối với phần tài sản bị hư hỏng do hành vi của bị cáo gây ra đối với người bị hại. Số tiền người bị hại Cù Thị Mỹ H2 yêu cầu bị cáo bồi thường 5.560.000 đồng là cao hơn số tiền thiệt hại 5.000.0000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS, ngày 15/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C.

Tuy nhiên, tại phiên tòa những người bị hại đã tự nguyện đưa ra yêu cầu bồi thường theo thiệt hại thực tế và bị cáo đồng ý với toàn bộ các yêu cầu bồi thường của người bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý chí tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và các bị hại về trách nhiệm dân sự.

Người bị hại Lê Thái Trần N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thái Trần C1 vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Về vật chứng:

- Các vật chứng gồm: 01 xe mô tô Honda AirBlade, màu xanh - bạc – đen, biển kiểm soát 79Z1-434.85; 01 xe mô tô Honda SH 125I, màu trắng – đen, biển kiểm soát 79C1-755.96; 01 xe mô tô Honda Wave, màu xanh - đen - bạc, biển kiểm soát 79Z1-439.15; 01 xe mô tô Honda Vision, màu trắng – đen, biển kiểm soát 79TA-028.87; 01 xe mô tô Honda Vario, màu nâu – đen, biển kiểm soát 79Z1-602.46 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu.

- Các vật chứng, gồm: 01 màn hình máy tính để bàn nhãn hiệu Archtex 17inch đã bị hư hỏng, không hoạt động được; 01 chậu hoa bằng nhựa bị bể; 01 quạt điện nhãn hiệu Senko Model L1638 bị hư hỏng; 02 chiếc dép nhựa màu nâu, dưới đáy có dòng chữ “Thủ Đô”; 01 cây rựa dài 81,5cm; cán bằng gỗ dài 64cm; lưỡi bằng kim loại dài 17,5cm; 01 cây rìu cán bằng gỗ dài 37cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 15cm; 01 tấm vải caro dạng ống, kích thước 21x37cm; 01 quần đùi bằng vải, màu đen đều đã bị hư hỏng và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô Honda Vario, màu trắng – đen, không gắn biển kiểm soát, là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Theo lời trình bày của bị cáo và chị Lê Thị Minh H thì xe này là của chị H mua của một người quen, nhưng không xuất trình được giấy tờ mua bán hay bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc mua chiếc xe này nên chưa đủ căn cứ xác định đây là tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của chị Lê Thị Minh H. Kết quả xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện chiếc xe này có biển kiểm soát 59C2-857.27, số khung KF41E1073294, số máy MH1KF4112JK072632, được cấp cho chủ sở hữu là ông Tô Đình C2. Đến nay Cơ quan điều tra vẫn chưa lấy được lời khai của ông Tô Đình C2, chưa thu thập được tài liệu, chứng cứ để xác định chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này. Vì vậy cần giao lại cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh K để tiếp tục xác minh, điều tra, tìm kiếm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

2.1. Áp dụng các Điều 584, 585, 587 của Bộ luật dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phải bồi thường cho:

- Chị Trần Hoài Xuân M 2.350.000 đồng (Hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng);

- Chị Phạm Thị Phương Thanh H1 7.290.000 đồng (Bảy triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng);

- Anh Nguyễn Quang Q 5.680.000 đồng (Năm triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng);

- Chị Cù Thị Mỹ H2 5.560.000 đồng (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng);

- Bà Trần Thị Đ 10.430.000 đồng (Mười triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).

2.2. Áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Tách ra để giải quyết sau theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn yêu cầu về trách nhiệm dân sự của người bị hại Lê Thái Trần N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thái Trần C1.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 màn hình máy tính để bàn nhãn hiệu Archtex 17inch đã bị hư hỏng, không hoạt động được; 01 chậu hoa bằng nhựa bị bể; 01 quạt điện nhãn hiệu Senko Model L1638 bị hư hỏng; 02 chiếc dép nhựa màu nâu, dưới đáy có dòng chữ “Thủ Đô”; 01 cây rựa dài 81,5cm; cán bằng gỗ dài 64cm; lưỡi bằng kim loại dài 17,5cm; 01 cây rìu cán bằng gỗ dài 37cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 15cm; 01 tấm vải caro dạng ống, kích thước 21x37cm; 01 quần đùi bằng vải, màu đen.

Tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKSCl, ngày 13/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

3.2. Giao lại xe mô tô Honda Vario, màu trắng – đen, biển kiểm soát 59C2-857.27, số khung KF41E1073294, số máy MH1KF4112JK072632, cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K để tiếp tục điều tra, xác minh, xác định chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKSCL, ngày 27/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.565.000 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ