- Tranh chấp gì? án hình sự — "Điểu L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn sửa đổi, bổ…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày 25-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trường Hải;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Điểu Long, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984 tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Thợ cưa; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Stiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu C, sinh năm 1960 và bà Thị C1, sinh năm 1965; bị cáo có vợ tên Thị H, sinh năm 1983 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo Điểu L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 10/12/2024 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Phạm Duy A, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Đình T, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ ngày 18/11/2024, Điểu L cùng Điểu P (cháu của L) điều khiển xe mô tô biển số 93C1-098.31 đi từ nhà thuộc ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước đến lô cao su Ba Thắng thuộc tổ C, ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương gặp Phạm Duy A để lấy tiền công L làm thuê trước đó. Tại đây, L yêu cầu ông Duy A trả tiền công nhưng ông Duy A nói là chưa có tiền, L tiếp tục làm thuê cho Duy A, khi nào có tiền sẽ trả rồi ông Duy A bỏ đi xuống bìa suối bốc củi. Thấy vậy, L đi đến căn chòi dọn đồ đạc cá nhân của mình, L thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 61L5-1262 của ông Phạm Duy A có cắm sẵn chìa khoá trên xe nên L nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô, L không nói cho P biết ý định trộm xe mô tô, L kêu P điều khiển xe mô tô biển số 93C1-098.31 chạy trước, còn L điều khiển xe mô tô biển số 61L5-1262 chạy sau. Khoảng 15 phút sau, Phạm Duy A phát hiện mất trộm tài sản nên trình báo sự việc đến Công an xã T. Qua làm việc Điểu L thừa nhận hành vi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số 117/KL-ĐGTS ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius màu đen biển số 61L5-1262 có giá trị 4.400.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius màu đen biển số 61L5-1262 do Võ Đình T, sinh năm 1978, hộ khẩu thường trú: Khu phố F, thị trấn P, huyện P đứng tên chủ sở hữu. Ông T giao xe mô tô biển số 61L5-1262 cho Phạm Duy A mượn để làm phương tiện sử dụng. Ngày 08/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định trả lại tài sản trên cho Võ Đình T, ông T nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSPG ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Điểu L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Điểu L phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Điểu L mức hình phạt tù từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 16 (mười sáu) tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đã trả lại tài sản cho bị hại, các bên không có ý kiến gì nên không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Điểu L thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp một xe mô tô Yamaha Sirius màu đen biển số 61L5-1262 trị giá 4.400.000 đồng của ông Phạm Duy A. Bị cáo thống nhất với kết luận định giá, tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến khác.
Bị hại ông Phạm Duy A đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, tuy nhiên căn cứ lời khai trong quá trình tố tụng khai nhận chính bị cáo Điểu L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Phạm Duy A, đã nhận lại tài sản và ngoài ra không có yêu cầu khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Đình T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tuy nhiên căn cứ lời khai trong quá trình tố tụng và nội dung đơn đề nghị xét xử vắng mặt thể hiện không yêu cầu bồi thường và ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo Điểu L: Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Điểu L khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 18/11/2024 tại lô cao su Ba Thắng thuộc tổ C, ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Điểu L đã có hành vi lén lút lấy trộm một xe mô tô Yamaha Sirius màu đen biển số 61L5-1262 trị giá 4.400.000 đồng của bị hại ông Phạm Duy A nhằm mục đích bán lấy tiền trên đường đi thì bị phát hiện bắt giữ.
[3] Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 117/KL-ĐGTS ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius màu đen biển số 61L5-1262 có giá trị 4.400.000 đồng.
[4] Hành vi của bị cáo lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chủ sở hữu đã chiếm đoạt tài sản của bị hại với giá trị tài sản là 4.400.000 đồng. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[5] Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Điểu L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[6] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[7] Xét hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi, bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng do bản tính lười lao động, ham muốn có tài sản một cách nhanh chóng mà không phải lao động tạo ra nên bị cáo đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[8] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[10] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là dân tộc thiểu số, có con còn nhỏ, lao động chính trong gia đình đang nuôi mẹ già bị bệnh theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[11] Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có khả năng tự cải tạo, giáo dục và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội lần đầu, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội; vì thế, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo.
[12] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
[13] Đối với Điểu P không biết bị cáo Điểu L lấy trộm xe mô tô biển số 61L5-1262 của ông Phạm Duy A, bị cáo L không bàn bạc với P về việc lấy trộm xe mô tô. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[14] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo Điểu L bồi thường do tài sản đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường; xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của các bên nên ghi nhận.
[15] Về xử lý vật chứng: Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, quá trình điều tra không thu giữ tài sản gì khác nên không xem xét.
[16] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số ị quyết 02/2018/NQ-HĐTP" \t "_blank" 02/2018/NQ-HĐTPngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Điểu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Điểu L 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 25/3/2025).
Giao bị cáo Điểu L cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Điểu L thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 để giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Điểu L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương;01 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;01 - VKSND tỉnh Bình Dương;01 - PV06 Công an tỉnh Bình Dương;01 - VKSND H. Phú Giáo;01 - CQ CSĐT Công an H. Phú Giáo;01 - Đội CSTHAHS và HTTP;01 - Chi cục THADS H. Phú Giáo;01 - UBND X. Phước An, H.Hớn 01 Quản, T. Bình Phước; - Bị cáo; người tham gia tố tụng;03 - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.02 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Duyên |