vanban.org

Bản án 35/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 27/02/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/02/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích T. S a một ph n Bản án hình s sơ th m số: 21/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện V.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T ph m các tội:“Hủy hoại tài sản”;“Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. ph t bị cáo Nguyễn Thị Bích T 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị Bích Thủy, tôi " Trôm cắp tài sản, hủy hoại và chiếm đoạt tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích T. S a một ph n Bản án hình s sơ th m số: 21/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện V.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình s; Điều 174 Bộ luật Hình s; Điều 178 Bộ luật Hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-PT
Ngày: 27/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Phương.

Các Thẩm phán:

Ông Thái Văn Hà.

Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Võ Thị lệ Giang-Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định ét phúc th m công khai v án hình s phúc th m th lý số: 140/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024. Theo quy t định đưa v án ét phúc th m số: 211/2024/ Đ PT-HS ngày 06/11/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình s sơ th m số: 21/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Th nh, tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Bích T (Tên gọi khác: không), sinh ngày: 25/01/1970, t i: Huyện V, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Nhân viên y t . Chức v : không. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H (Liệt sỹ) và bà Ph m Thị Hồng S, sinh năm: 1948 (Thương binh). Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con đ u trong gia đình. Chồng: không; con: có 02 con (Lớn sinh năm 1991, nh sinh năm 2002). Tiền án, tiền s : không.Bị cáo bị t m giam t ngày 11/10/2023 đ n ngày 13/11/2023 cho bão lãnh, hiện đang áp d ng biện pháp cấm đi kh i nơi cư trú, t m hoãn uất cảnh t ngày 17/11/2023 đ n ngày 06/12/2023.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Văn P, ho t động t i Công ty L2 thuộc đoàn luật sư tỉnh B.

- Bị hại:

+ Bà Hồ Thị Vĩnh H1, sinh năm: 1987, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1968, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1984, địa chỉ: Thôn V, ã V, huyện V, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Hồ Thị Vĩnh H1: Ông Lâm Thanh T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, địa chỉ: G đường T, TP ., tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn bi n t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Trước năm 1999, một ph n đất t i khu v c có t c danh H -

khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định là rẫy cũ của gia đình bà Nguyễn Thị L nhưng không canh tác. Đ n năm 1999, th c hiện Chương trình phủ anh đất trống đồi trọc 327, ngoài phát dọn rẫy của mình, ông Hồ Đức T2 đã phát dọn và trồng keo luôn trên ph n đất rẫy của gia đình bà L. Đ n khoảng năm 2008 – 2009, sau khi khai thác số cây keo lá tràm này, ông T2 trả l i đất cho bà Nguyễn Thị Lệ . Bà L và em ruột là ông Nguyễn Thanh B mua giống và trồng khoảng 1.200 cây keo lá tràm trên diện tích đất rẫy trên. Lúc trồng, có ông Phan Xuân B1 là người dân g n đó thấy, bi t. Trồng ong, bà L giao l i đất và cây keo cho ông B toàn quyền quản lý, s d ng.

Khoảng năm 2010, bị cáo Nguyễn Thị Bích T gặp ông Nguyễn Văn B2 (Tên thường gọi là Bình D, đã ch t năm 2019) và ông Trương Đ để mua đất sản uất t i khu v c thuộc khu phố Đ, thị trấn V. Sau khi th a thuận ong việc mua bán, ông Bình D và ông Đ tr c ti p dẫn bị cáo đ n khu rẫy và chỉ ranh giới đất, ông Đ và ông Bình D chỉ rõ ph n đất mà hai người bán cho bị cáo không trồng gì cả, còn ph n đất rẫy trồng cây keo lá tràm khoảng 02 năm tuổi giáp ranh t i đó (Rẫy keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B) của ai thì họ không bi t, họ không hề bán ph n rẫy keo này cho bị cáo. Sau đó, đ n khoảng năm 2016, bị cáo thuê ông Phan Văn L1 và một số người khác phát dọn, trồng keo lai trên ph n đất mà ông Bình D và ông Đ đã bán cho bị cáo. Trước khi phát dọn, ông B D u chỉ rõ đám keo lá tràm khoảng 08 - 09 năm tuổi sát c nh đám rẫy ông B D u bán cho bị cáo là của người khác. Khi phát dọn, bị cáo thuê người phát dọn lấn qua một ph n diện tích trồng keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B. Ông Phan Xuân B1 đi thăm rẫy thì thấy có một nhóm người phát dọn rẫy cho bị cáo phá một số cây keo lá tràm của ông B. Vài ngày sau, ông B1 gặp bà L nên báo cho bà L bi t. Bà L vào rẫy kiểm tra thì thấy bị cáo đã phát dọn, trồng cây lấn qua đất của ông B khoảng 500m2, bà L gặp bị cáo h i t i sao phát lấn qua đất trồng keo lá tràm thì T nói lỡ phát, sau này khi khai thác keo sẽ trả l i ph n đất đã lấn. Vài ngày sau, ông B1 h i bà L k t quả s việc thì bà L kể l i nội dung buổi gặp với T cho ông B1 nghe.

T i ph n rẫy giáp ranh với đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B, đám keo lai của bị cáo, ông Hồ Đức T2 cho con gái là bà Hồ Thị Vĩnh H1 canh tác ph n đất rẫy này. Vào khoảng tháng 12/2019, bà H1 có thuê một số người dân trồng khoảng 700 – 800 cây keo lai t i mảnh đất rẫy 811m2 này. Cuối tháng 4/2022, bị cáo thuê ông Huỳnh Văn N1 dùng máy múc dọn cây làm đường để e tải ch y vào rẫy keo của bị cáo. Sáng ngày 28/4/2022, ông Huỳnh Văn N1 điều khiển e máy múc đ n rẫy keo này, vì tin lời bị cáo nói số cây keo là của bị cáo nên anh Huỳnh Văn N1 đã th c hiện theo yêu c u của bị cáo, phá số cây keo trên diện tích 811m2 của bà Hồ Thị Vĩnh H1 trị giá 4.088.000 đồng và 19 cây keo lá tràm ông Nguyễn Thanh B trị giá 3.083.000 đồng, tổng trị giá tài sản bị hủy ho i là 7.171.000 đồng.

Sau đó, mặc dù bị cáo bi t rõ Cơ quan điều tra đang ti n hành ác minh làm rõ hành vi phá số cây keo trên nhưng vào ngày 31/5/2022 và ngày 01/6/2022, lợi d ng đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B a khu dân cư và ông B ít vào rẫy để thăm, chăm sóc keo, bị cáo đã lén lút thuê các ông Lê Văn D1, Lê Hùng P1 và một số người khác đều thôn Đ, ã V đ n khu v c rẫy bị cáo trồng keo lai, đồng thời chỉ số cây keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B, nói với những người này:“Toàn bộ rẫy keo đều là của cô” rồi bảo nhóm ông D1 ti n hành khai thác. uá trình khai thác, T thường uyên có mặt t i rẫy keo để kiểm tra, chỉ dẫn việc khai thác. Vì tin lời của bị cáo nên nhóm của anh D1 đã khai thác số cây keo lá tràm của ông B. Sau đó, bị cáo ti p t c thuê e tải của ông Đỗ Hùng C và ông Nguyễn Văn C1 để vận chuyển số cây keo đã khai thác bán cho Công ty TNHH H3.

Đ n chiều ngày 01/6/2022, bà Nguyễn Thị L đi hái điều t i rẫy của mình giáp ph n đất trồng cây keo lá tràm của ông B thì phát hiện s việc nên báo cho ông B bi t đ n rẫy keo ngăn nhóm của ông D1 không ti p t c khai thác keo, ông D1 nói:“Bà T bảo khai thác nên chúng con làm, chúng con không biết là đám keo của chú”. Sau đó nhóm ông D1 không khai thác keo lá tràm nữa. K t quả khám nghiệm hiện trường, giám định r ng, định giá tài sản: 106 cây keo lá tràm bị khai thác có khối lượng 10,7m3 trị giá 17.658.000 đồng, là đất r ng trồng sản uất của hộ gia đình, cá nhân chưa được giao đất, thuê đất, chứng nhận quyền s d ng đất.

Các hành vi trên của bị cáo đã bị kh i tố, truy tố, trong thời gian chu n bị ét , khoảng 09 giờ sáng ngày 01/12/2022, bị cáo gặp ông Lê Văn H2 đang lái e ch cây t i khu v c thôn M, xã V. Bị cáo nghĩ ông H2 là người mua bán gỗ keo nên h i ông H2 có mua cây keo hay không thì ông H2 nói có, nên hai bên hẹn thời gian đi em cây để mua. Đ n khoảng 14 giờ cùng ngày, ông H2 đ n nhà bị cáo t i khu phố Đ, thị trấn V rồi bị cáo dẫn anh H2 đ n t i khu v c H - X thuộc khu phố Đ, thị trấn V để tr c ti p chỉ bán các đám cây keo. Khi đ n nơi, đ u tiên bị cáo tr c ti p chỉ bán cho ông H2 toàn bộ số cây keo lá tràm hơn 10 năm tuổi của ông Nguyễn Thanh B mà trước đó T thuê anh Huỳnh Văn N1 san ủi và anh D1 khai thác bán còn sót l i. Ti p đó, bị cáo tr c ti p chỉ bán cho ông H2 06 đám cây keo lai khoảng t 04 đ n 05 năm tuổi (Trong đó có 01 đám cây của ông Phan Xuân B1). Vì anh H2 không rành về việc mua bán cây nên anh H2 liên l c với anh Đ1 để nhờ anh Đ1 đi cùng mình em cây của bị cáo. Anh Đ1 đồng ý nên ông H2 ch anh Đ1 đ n khu v c H - X gặp bị cáo để bị cáo ti p t c chỉ cây cho ông H2 và ông Đ1. Sau khi chỉ bán 07 đám cây keo nói trên, trong đó có đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B, T th a thuận với ông H2 và ông Đ1 mua bán 07 đám cây keo này với giá 70.000.000 đồng.

Khi thống nhất với bị cáo ong thì ông H2 và ông Đ1 về nhà và gặp ông Nguyễn Văn N và nói cho ông N bi t việc bị cáo có bán 07 đám keo với giá 70.000.000 đồng rồi bảo ông N qua em cây n u được thì mua. Ông N đồng ý. Đ n khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, ông H2 và ông Đ1 dẫn ông N đ n em đám keo mà bị cáo v a chỉ trước đó cho ông H2 và ông Đ1. Khi đi em ong 07 đám cây nói trên, ông N thống nhất mua và t ước lượng giá mua t ng đám cây. C thể: 01 đám cây keo lá tràm nói trên là khoảng t 4,5 đ n 05 tấn cây với giá mà ông N sẽ mua là 4.500.000 đồng; 01 đám cây keo lai (Của ông Phan Xuân B1 mà bị cáo đã t ý chỉ bán) là khoảng t 05 đ n 06 tấn nên giá mà ông N sẽ mua là 5.000.000 đồng, 05 đám cây còn l i với tổng số tiền khoảng 60.500.000 đồng. Sau khi em ong 07 đám cây nói trên, ông N đồng ý mua với giá 70.000.000 đồng. Sau đó, nhóm ông N gặp bị cáo t i khu v c oài Đ2 và hai bên th a thuận việc mua bán 07 đám cây v a em với giá là 70.000.000 đồng. Ông N đưa tiền cọc 10.000.000 đồng cho bị cáo và hai bên hẹn nhau 17 giờ ngày 03/12/2022 đ n nhà bị cáo để làm giấy tờ mua bán cây và giao tiền một ph n trước khi khai thác.

Đ n khoảng 17 giờ ngày 03/12/2022, ông N, ông Đ1, ông H2 đ n nhà bị cáo để vi t giấy mua bán 07 đám cây. Trước khi vi t giấy mua bán, T nói với ông N là toàn bộ các đám keo là của bị cáo, bao gồm cả đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B. Vì tin vào thông tin gian dối này của bị cáo, ông N đưa cho bị cáo số tiền 50.000.000 đồng và còn nợ l i số tiền 10.000.000 đồng hẹn khi nào bắt đ u khai thác cây thì ông N sẽ trả đủ cho bị cáo. Sau đó, bị cáo vi t “Giấy Bán Cây Keo – Không Bán đất” với nội dung bán 06 chòm cây keo t i núi H - G với giá 70.000.000 đồng rồi đưa cho ông N ký tên vào. Vì tin tư ng bị cáo nên ông N ký tên vào tờ giấy và ch p l i bằng điện tho i rồi đưa tờ giấy này cho bị cáo. Ông N đưa cho bị cáo 50.000.000 đồng rồi cùng ông Đ1 và ông H2 ra về. Sau đó, ông N đưa cho ông H2, ông Đ1 mỗi người 1.000.000 đồng tiền công dẫn ông N đi em cây.

Khoảng một tu n sau thì ông N bắt đ u khai thác 07 đám cây keo nói trên. Khi ông N đi đ n t i một trong sáu đám cây keo lai mà T đã chỉ bán trước đó để khai thác thì gặp ông Phan Xuân B1. Ông B1 nói rõ cho ông N bi t đám cây keo này là của ông B1 và không cho ông N khai thác nên ông N gọi điện cho bị cáo để h i rõ về đám cây keo này thì bị cáo nói:“Tao không có chỉ đám cây đó cho mày đâu mà mày đi cắt”. Sau đó, bị cáo thường uyên gọi điện cho ông N đòi số tiền 10.000.000 đồng mà ông N còn nợ, ông N nói với bị cáo:“Cô chỉ cho cháu đám keo của người ta, giờ cháu mất đám keo trên dông cao mà giờ cô đòi tiền gì nữa”. bị cáo nói:“Tao cũng chỉ cho mày đủ 06 đám rồi, đám trên dông nào nữa mà mày đòi”. Vài ngày sau, bị cáo đ n gặp ông N để đòi tiền. Vì sợ bị cáo làm khó khăn cho việc khai thác những đám cây còn l i nên ông N chỉ đưa cho bị cáo số tiền 5.000.000 đồng và còn nợ l i số tiền 5.000.000 đồng đ n nay chưa trả. Đ n sáng ngày 14/01/2023 thì ông N bắt đ u khai thác cây keo lá tràm nói trên và điều khiển e ô tô tải, biển kiểm soát: 82C-013.16 ch số gỗ khai thác được đ n Công ty TNHH H3 C m C thuộc ã V, huyện V, tỉnh Bình Định cân được 4.710 kg với số tiền 6.264.000 đồng. Sau đó, bị cáo nhiều l n gọi điện cho ông N đòi số tiền 5.000.000 đồng còn l i nhưng ông N lấy lý do không khai thác được đám cây keo của ông Phan Xuân B1 nên vẫn chưa đưa số tiền 5.000.000 đồng cho bị cáo.

uá trình điều tra, bị cáo chỉ th a nhận có chỉ bán 06 đám cây keo t i khu v c , thuộc khu phố Đ, thị trấn V (Trong đó có đám cây keo lá tràm mà trước đây ông Nguyễn Thanh B tố cáo bị cáo về hành vi trộm cắp và hủy ho i tài sản) cho ông Nguyễn Văn N với giá 70.000.000 đồng và không th a nhận việc th a thuận bán đám cây keo của ông Phan Xuân B1 cho ông N. Cơ quan điều tra đã ti n hành đối chất giữa bị cáo với ông Lê Văn H2 (Người mà bị cáo tr c ti p dẫn chỉ bán cây) nhưng bị cáo và ông H2 vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Vì không rành về việc mua bán cây để khai thác nên bị cáo chỉ th a thuận mua bán 06 đám cây với ông N số tiền 70.000.000 đồng chứ không th a thuận riêng t ng đám cây keo là bao nhiêu tiền. Bị cáo đồng ý đối với việc ông N t ước lượng đám cây keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B nói trên có giá mua là 4.500.000 đồng.

Đ n ngày 03/02/2023, ông Nguyễn Thanh B vào thăm rẫy keo thì phát hiện đám keo lá tràm của mình đã bị người khác khai thác nên đ n Công an thị trấn V để trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã khám nghiệm hiện trường, trưng c u giám định thiệt h i và định giá tài sản đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B mà bị cáo bán cho ông N, k t quả: 41 cây keo lá tràm trị giá 6.220.350 đồng.

T i Cơ quan điều tra, vào ngày 30/9/2022, bị cáo giao nộp 25.000.000 đồng với lý do để bồi thường thiệt h i cho các bị h i chị Hồ Thị Vĩnh H1 và ông Nguyễn Thanh B.

T i bản án hình s sơ th m số: 21/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện Vĩnh Th nh đã quy t định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 178, Điều 55, điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình s ;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 106, các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố t ng hình s ;

Căn cứ các Điều 166, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân s ,

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích T ph m các tội: “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Hủy hoại tài sản”.

2. Về hình ph t: ph t bị cáo Nguyễn Thị Bích T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 06 (S1) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 09 (Chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

Tổng hợp hình ph t: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời h n tù tính t ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Được khấu tr thời gian bị t m giữ, t m giam t ngày 11/10/2023 đ n ngày 13/11/2023.

Trong thời h n 30 ngày, kể t ngày bản án có hiệu l c pháp luật, buộc bị cáo T phải t nhổ b toàn bộ số cây keo bị cáo T đã trồng trên khu đất của các bị h i Hồ Thị Vĩnh H1, Nguyễn Thanh B, trả l i nguyên hiện tr ng đất cho bị h i H1 là 811m2, cho bị h i B là 1.235m2.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ th m còn quy t định về trách nhiệm dân s bồi thường thiệt h i, về lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố t ng.

Ngày 28/12/2022, bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo yêu c u cấp phúc th m hủy toàn Bản án sơ th m. Ngày 15/01/2025, bị cáo có kháng cáo bổ sung in được giảm nhẹ hình ph t và cho bị cáo được hư ng án treo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý ki n:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình s đề nghị Hội đồng ét quy t định theo hướng: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T về hủy toàn bộ Bản án sơ th m. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo in giảm hình ph t, s a bản án sơ th m theo hướng: Áp d ng điểm b, khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình s , ph t bị cáo Nguyễn Thị Bích T 06 tháng tù (giảm 3 tháng) về tội "Trộm cắp tài sản"; 06 tháng tù (giảm 3 tháng) về tội “Hủy ho i tài sản”; Áp d ng điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình s , 06 tháng tù về tội “L a đảo chi m đo t tài sản”; tổng hợp hình ph t là 18 tháng tù. Tách ph n giải quy t về trách nhiệm dân s để giải quy t bằng một v án dân s theo thủ t c tố t ng dân s khi có đơn yêu c u.

Luật sư trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo T: Đề nghị Hội đồng ét

chấp nhận kháng cáo của bị cáo hủy Bản án sơ th m, chuyển hồ sơ về l i cấp sơ th m để ti n hành điều tra, ét l i v án theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng ét nhận định như sau:

1 Về tố t ng : Bị cáo Nguyễn Thị Bích T kháng cáo trong thời h n luật định nên được Hội đồng ét

em ét.

2 T i phiên toà phúc th m bị cáo không khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo, bị h i, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ v án Hội đồng ét có đủ căn cứ k t luận:

Sáng ngày 28/4/2022, bị cáo Nguyễn Thị Bích T thuê ông Huỳnh Văn N1 điều khiển e máy múc đ n rẫy keo này, vì tin lời bị cáo nói số cây keo là của bị cáo nên anh Huỳnh Văn N1 đã th c hiện theo yêu c u của bị cáo, phá hu số cây keo trên diện tích 811m2 của bà Hồ Thị Vĩnh H1 trị giá 4.088.000 đồng và 19 cây keo lá tràm ông Nguyễn Thanh B trị giá 3.083.000 đồng: Tổng trị giá tài sản bị hủy ho i là 7.171.000 đồng; vào ngày 31/5/2022 và ngày 01/6/2022, lợi d ng đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B a khu dân cư và ông B ít vào rẫy để thăm, chăm sóc keo, bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản bằng cách thuê các ông Lê Văn D1, Lê Hùng P1 và một số người khác đều thôn Đ, ã V đ n khu v c rẫy bị cáo trồng keo lai, đồng thời chỉ số cây keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B 106 cây keo lá tràm bị khai thác bị cáo ti p t c thuê e tải của ông Đỗ Hùng C và ông Nguyễn Văn C1 để vận chuyển số cây keo đã khai thác bán cho Công ty TNHH H3, có khối lượng 10,7m3 trị giá 17.658.000 đồng. Ti p đ n ngày 03/12/2022, ông N, ông Đ1, ông H2 đ n nhà bị cáo để vi t giấy mua bán nhiều đám cây keo cho ông Nguyễn Văn N nhưng bị cáo bi t rằng đám keo này không phải của bị cáo, cho nên đưa thông tin gian dối nhằm chi m đo t tài sản là đám keo của của ông Nguyễn Thanh B là của bị cáo đem bán cho ông Nguyễn Văn N có 41 cây keo lá tràm trị giá 6.220.350 đồng. Tổng giá tri tài sản mà bị cáo đã gây thiệt h i trên cho các bị h i là : (7.171.000đ 17.658.000đ 6.220.350đ) 31.049.350 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, đã âm ph m đ n quyền s hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật t trị an ã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Bích T đủ y u tố cấu thành 03 tội : “Hu ho i tài sản” được quy định t i khoản 1 Điều 178; ”Trộm cắp tài sản” được quy định t i khoản 1 Điều 173 và “L a đảo chi m đo t tài sản”được quy định t i khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình s , các tội nêu trên đều có khung hình ph t t 06 tháng đ n 03 năm tù. Toà án cấp sơ th m đã ét bị cáo về 03 tội danh là đùng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật .

3 ét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích T kháng cáo yêu c u hủy toàn bộ Bản án sơ th m, Hội đồng ét thấy rằng:

Về hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Th nh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và Hội đồng ét sơ th m đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình s . Mặc dù t i phiên tòa sơ th m, bị cáo T yêu c u thay đổi Kiểm sát viên vì cho rằng Kiểm sát viên không vô tư, không khách quan trong khi thi hành nhiệm v , nhưng bị cáo không uất trình, không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, các hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã th c hiện đều hợp pháp. T i phiên tòa phúc th m, bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Th nh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và Hội đồng ét sơ th m trong quá trình ét đã vi ph m nghiêm trọng thủ t c tố t ng nên hội đồng ét không chấp nhận kháng cáo yêu c u hủy Bản án sơ th m của bị cáo.

4 ét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích T in giảm nhẹ hình ph t và cho hư ng án treo, Hội đồng ét thấy rằng: Với tính chất mức độ hành vi ph m tội nêu trên của bị cáo, thì c n phải ph t bị cáo một hình ph t thật nghiêm khắc mới đủ tác d ng răn đe giáo d c và phòng ng a chung. Cấp sơ th m đã ph t bị cáo: Nguyễn Thị Bích T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 06 (S1) tháng tù về tội “L a đảo chi m đo t tài sản”; 09 (Chín) tháng tù về tội “Hủy ho i tài sản”. Tổng hợp hình ph t: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, khi áp d ng hình ph t c n em ét các tình ti t tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình s của bị cáo. Bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình s mà có nhiều tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s : Bị cáo đã t nguyện bồi thường thiệt h i 25.000.000 đồng để khắc ph c hậu quả, bị cáo là con của Liệt sỹ, con thương binh nên được hư ng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s được quy định t i các điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình.

T những tình ti t nêu trên, nhận thấy Toà án cấp sơ th m chưa áp d ng cho bị cáo các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s là: Bị cáo t nguyện nộp 25.000.000 đồng khắc ph c hậu quả và bị cáo là con Thương binh. Đây là các tình ti t mới quy định t i điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình s phát sinh t i cấp ét phúc th m, nên Hội đồng ét làm căn cứ để giảm nhẹ một ph n hình ph t cho bị cáo tương úng với tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi ph m tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng ét có chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t của bị cáo. S a mức hình ph t của Bản án hình s sơ th m .

5 Đối với việc cấp sơ th m tuyên nhổ b toàn bộ số cây keo bị cáo T đã trồng trên khu đất của các bị h i Hồ Thị Vĩnh H1 và Nguyễn Thanh B, thì Hội đồng ét thấy rằng: Đây là nội dung về tranh chấp dân s không liên quan đ n v án hình s , không có liên quan đ n việc cấu thành tội ph m, đ n việc em ét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s đối với bị cáo T. Hơn nữa, trong hồ sơ v án không thể hiện số lượng cây keo c n phải nhổ b , giá trị số cây phải nhổ b là bao nhiêu nên cấp sơ th m giải quy t về ph n này là chưa có đủ căn cứ. Do đó, Hội đồng ét quy t định s a một ph n bản án về ph n dân s , tách ph n dân s này để giải quy t bằng một v án dân s khác khi có yêu c u, theo quy định t i Điều 30 của Bộ luật tố t ng hình s năm 2015.

6 Về án phí hình s phúc th m: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố t ng hình s và Điều 23 của Nghị quy t số: 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v uốc hội. Bị cáo T không phải chịu.

7 Các quy t định khác của bản án hình s sơ th m, không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu l c thi hành kể t ngày h t thời h n kháng cáo, kháng nghị.

8 Đề nghị viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình định phù hợp với nhận định của Hội đồng ét nên được chấp nhận.

9 Luận cứ bào chữa cho bị cáo của Luật sư Bùi Văn P là không phù hợp với nhận định của Hội đồng ét nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố t ng hình s .

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174, điểm b, khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình s ;

Căn cứ vào Điều 106, các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố t ng hình s và Điều 23 của Nghị quy t số: 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của U ban thường v uốc hội.

1. Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích T. S a một ph n Bản án hình s sơ th m số: 21/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân huyện V.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T ph m các tội:“Hủy hoại tài sản”;“Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

ph t bị cáo Nguyễn Thị Bích T 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình ph t của 03 tội , buộc bị cáo phải chấp hành hình ph t chung là:18 (mười tám) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính t ngày bắt đi thi hành án. Được tr thời gian t m giữ, t m giam t ngày 11/10/2023 đ n ngày 13/11/2023.

3. Tách ph n dân s về việc bị cáo Nguyễn Thị Bích T trồng keo trên đất đang tranh chấp để giải quy t bằng một v án dân s khác khi có yêu c u.

4. Về án phí hình s phúc th m: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T không phải chịu.

5. Các ph n quy t định khác của bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật kể t ngày h t thời h n kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc th m có hiệu l c pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ