vanban.org

Bản án 35/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tra Thi Thuy N đối với ông Le Thanh P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tra Thi Thuy N được ly hôn đối với ông Le Thanh P. Về con chung: Giao cháu Le Tra Khanh N1, sinh ngày 18/7/2019 cho bà Tra Thi Thuy N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tra thi thuy n - le thanh p"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tra Thi Thuy N đối với ông Le Thanh P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14-4-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung;

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tra Thi Thuy N, sinh năm 1995; địa chỉ: Số A, đường N, Khu phố 7, phường T, thành phố TD, tỉnh Bình Dương, vắng mặt;

2. Bị đơn: Ông Le Thanh P, sinh năm 1991; địa chỉ: Số B, Quốc lộ 13, Tổ 4, Khu phố 1, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/12/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Tra Thi Thuy N trình bày:

Bà Tra Thi Thuy N và ông Le Thanh P kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Định Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Trong quá trình chung sống bà Tra Thi Thuy N và ông Le Thanh P thường xuyên xảy ra cãi nhau, mỗi lần vợ chồng cãi nhau là ông P đuổi bà N. Khoảng đầu năm 2024, bà N chuyển về nhà mẹ ruột sinh sống, hai vợ chồng ly thân đến nay nhưng không hàn gắn được. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông Le Thanh P. Ông Le Thanh P và bà Tra Thi Thuy N có 01 con chung tên Le Tra Khanh N1, sinh ngày 18/7/2019. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là ông Le Thanh P: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Le Thanh P không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, không có yêu cầu phản tố đối với vụ án.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà Tra Thi Thuy N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn ông Le Thanh P đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần hai nhưng vắng mặt không có lý do.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng. Do nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Bà Tra Thi Thuy N có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Le Thanh P nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền: Bị đơn ông Le Thanh P sinh sống tại phường Định Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Nguyên đơn bà Tra Thi Thuy N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Le Thanh P đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tra Thi Thuy N và ông Le Thanh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND phường Định Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73, ngày 27 tháng 10 năm 2018 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại các điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét thấy, trong quá trình chung sống bà N và ông P xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân, không hàn gắn được, bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông P. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông P để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng ông P không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, điều này chứng tỏ ông P không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà Tra Thi Thuy N và ông Le Thanh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tra Thi Thuy N về việc yêu cầu ly hôn với ông Le Thanh P.

Về con chung: Bà Tra Thi Thuy N và ông Le Thanh P có 01 con chung là cháu Le Tra Khanh N1, sinh ngày 18/7/2019. Xét thấy, cháu N1 còn nhỏ và đang sống cùng với bà N nên giao cháu cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Tra Thi Thuy N không yêu cầu ông Le Thanh P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét thấy, quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Tra Thi Thuy N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); ông Le Thanh P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tra Thi Thuy N đối với ông Le Thanh P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tra Thi Thuy N được ly hôn đối với ông Le Thanh P.

- Về con chung: Giao cháu Le Tra Khanh N1, sinh ngày 18/7/2019 cho bà Tra Thi Thuy N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Tra Thi Thuy N không yêu cầu ông Le Thanh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung chưa thành niên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Tra Thi Thuy N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008963 ngày 13/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Cỡ chữ