- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hon Nguyen Van T-Dang Thi Yen L"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14- AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hừng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Châu Thanh Nguyên
2. Ông Hồ Văn Dũng
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thuý Duy là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 14 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14- An Giang: Ông Chau Pho Ly, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 14- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 238 ngày 22 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1999 (có mặt); địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã V, tỉnh An Giang; Số định danh xxxxxxxxxxxx.
2. Bị đơn: Đặng Thị Yến L, sinh năm 2001 (vắng mặt); địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã Ô, tỉnh An Giang; Số định danh xxxxxxxxxxxx.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn ly hôn 11/4/2025 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Văn T trình bày:
Giữa ông T và bà L có thời gian quen biết tự nguyện tìm hiểu nhau trước được khoảng 01 năm đến năm 2017 tổ chức lễ cưới về chung sống bên gia đình chồng, đến ngày 07/04/2023 tiến hành đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, không có tiếng nói chung, từ tháng 7/2023 đến nay các bên đã ly thân, hiện tình cảm không còn ông T kiện yêu cầu được ly hôn với bà L.
Về con chung có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết M, sinh ngày 24/9/2018 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/8/2020, hiện tại ông T đang nuôi dưỡng, ông T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung không có không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Đặng Thị Yến L vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không có văn bản trình bày ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - An Giang phát biểu quan điểm:
Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ và chấp hành đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Ông T và bà L quen biết tự tìm hiểu tổ chức lễ cưới về chung sống có thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống mâu thuẫn kéo dài nhiều năm, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung thường xuyên cãi nhau, các bên đã có thời gian ly thân từ tháng 7/2023 đến nay chưa về chung sống lại, cho thấy mâu thuẫn đôi bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đặt được, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết M, sinh ngày 24/9/2018 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/8/2020 hiện ông T đang nuôi dưỡng, ông T yêu cầu tiếp tục được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu cáp dưỡng nuôi con, xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngày 11tháng 4 năm 2025 ông Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bà Đặng Thị Yến L, bà L cư trú tại ấp Ấ, xã Ô, tỉnh An Giang. Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất vào ngày 22/8/2025 bị đơn vắng mặt Tòa án đã hoãn phiên tòa theo Quyết định hoãn phiên tòa số 238/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/8/2025 và tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Hôn nhân giữa ông T và bà L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào năm 2023 là quan hệ hôn nhân có giá trị pháp lý. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, ông T và bà L đã ly thân từ tháng 07/2023 đến nay chưa về chung sống lại.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân giữa ông T và bà L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng không thể hàn gắn được, ông T yêu cầu ly hôn, bà L vắng mặt suốt quá trình tố tụng không tạo điều kiện để hoà giải hàn gắn tình cảm về chung sống lại với ông T và 02 bên đã có khoản thời gian ly thân từ năm 2023. Do ông T không còn tình cảm nên không chủ động về chung sống với bà L, riêng bà L thì cố tình tránh né, không gặp mặt liên lạc với ông T tìm cách hàn gắn tình cảm mà lại bỏ mặc nhau tự sống, không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Điều đó cho thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà L đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T là có căn cứ.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết M, sinh ngày 24/9/2018 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/8/2020, hiện ông T đang nuôi dưỡng, ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con, xét thấy việc giao con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao con chung cho ông T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp, bà L không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền thăm con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo mức án phí không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T. Ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Đặng Thị Yến L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 07/04/2023 của Ủy ban nhân dân xã L (nay là xã V), tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết M, sinh ngày 24/9/2018 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 11/8/2020. Bà Đặng Thị Yến L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà L có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung được sống chung với ông T, tôn trọng quyền được trực tiếp nuôi con chung của ông T.
Bà L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, ông T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trường hợp bà L lạm dụng việc thăm nom để cản trở, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì ông T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con trên cơ sở vì lợi ích của con chung.
Về án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013070 ngày 05-5-2025 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Ông Nguyễn Văn T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 14 - An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - UBND xã Vĩnh Gia; - Đương sự; - Lưu VP; hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hừng |