vanban.org

Bản án 35/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Ly hôn, trranh chấp nuôi con” của nguyên đơn chị Nguyễn Phương T. Chị Nguyễn Phương T được ly hôn với anh Trần Văn P. Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Thiên Ý, sinh ngày 01/02/2023 cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 7 - 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Công Danh

2/ Ông Trần Văn Tam

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Uyên San – Thư ký Tòa án Khu vực 1 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 409/2025/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/7/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phương T, sinh năm 2003;

Địa chỉ: Số A, khu phố C, phường T, thành phố B, (nay là phường B) tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Trần Văn P, sinh năm 2002;

Địa chỉ: K, khu phố A, phường B, thành phố B, (nay là phường B) tỉnh Đồng Nai.

(Chị T có mặt, anh P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Phương T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn P đăng ký kết hôn vào tháng 10/2022 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nay là phường B, tỉnh Đồng Nai). Việc kết hôn này hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện. Cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng ban đầu vốn hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 4 năm 2023 thì giữa hai anh chị bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân và thường xuyên xảy ra cãi vã dẫn đến gia đình luôn căng thẳng. Hai vợ chồng đã nhiều lần tìm cách để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nay chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Trần Ngọc Thiên Ý, sinh ngày 01/02/2023. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được giao cháu Ý cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời, chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Trần Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Đảm bảo theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết tranh chấp: Cuộc sống vợ chồng giữa chị Nguyễn Phương T và anh Trần Văn P đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trần Ngọc Thiên Ý cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục, tạm thời anh P không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung chị T trình bày không có, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Phương T khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn anh Trần Văn Phát H đang trú tại: K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai), theo biên bản xác minh ngày 16/6/2025 của Công an phường B, B, Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng cho anh P đầy đủ, tuy nhiên anh P vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 17/10/2022. Căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo xác minh tại địa phương, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh P có xảy ra hay không thì địa phương không nắm rõ do chị T và anh P không trình báo, không liên hệ để giải quyết.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh P đến Toà để làm việc, dự phiên họp về tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hai vợ chồng anh chị có điều kiện gặp gỡ thỏa thuận, đoàn tụ nhưng anh P không đến. Điều này chứng tỏ chị T và anh P không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là căn cứ để Tòa án cho ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh P. [3] Về con chung: Chị T và anh P có 01 con chung là cháu Trần Ngọc Thiên Ý, sinh ngày 01/02/2023. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung, tạm thời chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng. Đối với anh P, trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh P không đến Tòa làm việc và cũng không có bản tường trình về yêu cầu giải quyết con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị T trình bày tài sản chung, nợ chung không có. Tuy nhiên, do anh P vắng mặt tại phiên tòa, không có lời khai nên không có cơ sở để xem xét giải quyết. Do vậy, cần tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Chị Nguyễn Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Áp dụng các Điều 8 và Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Ly hôn, trranh chấp nuôi con” của nguyên đơn chị Nguyễn Phương T. Chị Nguyễn Phương T được ly hôn với anh Trần Văn P.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Thiên Ý, sinh ngày 01/02/2023 cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Văn P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Phương T phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005828 ngày 18/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 – Đồng Nai). Chị T đã nộp xong án phí. 5. Chị Nguyễn Phương T có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ