vanban.org

Bản án 35/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý…

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hồng được ly hôn với anh Lê Văn Mun. Về con chung: Giao cho anh Lê Văn Mun được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu Lê Nhựt Huy, sinh ngày 06/08/2012. Chị Hồng không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng - Lê Văn Mun"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NG
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 4 - 2025
“Về việc ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các vị Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Ngọc Dung

Ông Đào Văn Tươi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ân Tình - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Ng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025. Về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1983 (Có mặt)

Cư trú: Ấp Cái Su, Hòa Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn: Lê Văn Mun, sinh năm 1977 (Có mặt)

Cư trú: Ấp Bà Thanh, xã Tân Ân Tây, huyện Ng, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 04/3/2025 và các lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng trình bày:

Về Hôn nhân: Tôi và anh Mun tự nguyện chung sống và tổ chức đám cưới với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân giữa tôi và anh Mun là hôn nhân tự nguyện.

Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do: Vợ chồng bất đồng quan điểm, hai người tính tình không còn phù hợp, sống với nhau không cảm thấy hạnh phúc, mặc khác hai người đã sống ly trên trên 6 năm nay, gia đình có hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bản thân xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, không thể duy trì bền lâu được nên tôi yêu cầu xin được ly hôn với anh Mun

Về con chung: Tôi và anh Mun có 03 người con chung tên: Lê Hoàng Huy, sinh năm 2003; Lê Công Quy, sinh năm 2007 và Lê Nhựt Huy, sinh ngày 06/08/2012. Hiện nay Lê Hoàng Huy và Lê Công Quy đã trưởng thành, Lê Nhựt Huy đang sống với anh Mun. Sau khi ly hôn: Tôi có nguyện vọng giao con Lê Nhựt Huy cho anh Mun tiếp tục nuôi dưỡng, tôi không phải cấp dưỡng việc nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ thu và nợ trả: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh Lê Văn Mun trình bày: Về phần hôn nhân về thời gian kết hôn như chị Nguyễn Thị Hồng trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng theo chị Hồng trình bày là đúng. Nay chị Hồng yêu cầu ly hôn tôi đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Hồng.

Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung tên: Lê Hoàng Huy, sinh năm 2003; Lê Công Quy, sinh năm 2007 và Lê Nhựt Huy, sinh ngày 06/08/2012. Hiện nay Lê Hoàng Huy và Lê Công Quy đã trưởng thành, Lê Nhựt Huy đang sống với tôi tên Mun. Sau khi ly hôn: Tôi yêu cầu nuôi con tên Lê Nhựt Huy, tôi không yêu cầu chị Hồng phải cấp dưỡng việc nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ thu và nợ trả: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Lê Văn Mun có nơi cư trú trên địa bàn huyện Ng, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ng theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Xét đơn của chị Nguyễn Thị Hồng khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Văn Mun nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồng và anh Mun có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Hồng và anh Mun đã ly thân từ năm 2015 đến nay, thời gian dài nhưng anh Mun không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng để được đoàn tụ, chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Hồng được ly hôn với anh Mun là phù hợp.

Về con chung: Chị Hồng trình bày vợ chồng chung sống có 03 người con chung tên: Lê Hoàng Huy, sinh năm 2003; Lê Công Quy, sinh năm 2007 và Lê Nhựt Huy, sinh ngày 06/08/2012. Hiện nay Lê Hoàng Huy và Lê Công Quy đã trưởng thành, Lê Nhựt Huy đang sống với anh Mun. Sau khi ly hôn chị Hồng đồng ý giao con Lê Nhựt Huy cho anh Mun tiếp tục nuôi dưỡng, chị Hồng không phải cấp dưỡng nuôi con.

Theo lời trình bày và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy rằng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo cuộc sống cho cháu Lê Nhựt Huy thì anh Mun có đủ điều kiện. Xét thấy, cháu Lê Nhựt Huy đã sống chung với anh Mun từ nhỏ, ổn định cuộc sống, tinh thần. Đồng thời phù hợp với đơn ngày 15/4/2025 của cháu Lê Nhựt Huy có nguyện vọng được sống với anh Mun. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho anh Mun nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với chị Hồng là mẹ của cháu Lê Nhựt Huy vẫn có quyền được thăm nom con mà không ai được phép ngăn cản.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Hồng và anh Mun không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Hồng trình bày vợ chồng không có tài sản chung, anh Mun không ý kiến gì nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản thì chị Hồng và anh Mun có quyền khởi kiện thành vụ kiện chia tài sản sau ly hôn.

Về nợ chung: Chị Hồng trình bày vợ chồng không có nợ chung, anh Mun không ý kiến gì nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hồng phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hồng được ly hôn với anh Lê Văn Mun.

- Về con chung: Giao cho anh Lê Văn Mun được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu Lê Nhựt Huy, sinh ngày 06/08/2012. Chị Hồng không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Hồng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Hồng phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chị Hồng có dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0015374 ngày 04/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ng được chuyển thu.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Hồng và anh Mun có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ