vanban.org

Bản án 35/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Tuấn K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K. 2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thu T1, sinh ngày 31/01/2010. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Tuấn K cấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T - Nguyễn Tuấn K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Tuấn K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hoài Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ;

2. Ông Hồ Đắc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ngày 30/10/2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông K chung sống với nhau từ năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn gia đình phát sinh từ năm đầu năm 2024; ông K không chăm sóc vợ con và vợ chồng bà T đã ly thân hơn 01 năm nay; bà T đưa con về nhà ba mẹ ruột sinh sống tại ấp D, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Khi bà T thông báo là đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án thì ông K nói muốn làm gì thì làm, không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông K.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thu T1, sinh ngày 31/01/2010. Bà T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu ông K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chứng cứ nguyên đơn bà T giao nộp: Bản chính đơn xin ly hôn ngày 30/10/2024, bản tự khai ngày 30/10/2024; bản sao trích lục kết hôn; bản sao giấy khai sinh của con chung.

* Bị đơn ông K:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt, niêm yết để ông K tham gia tố tụng nhưng ông K cố tình vắng mặt mà không có lý do nên không thu thập được ý kiến.

* Xác minh và làm việc của Tòa án:

Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành xác minh đối với mẹ ruột của ông K là bà Đặng Thị T2: Ông K có hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Sau kết hôn, vợ chồng ông K và bà T cùng sinh sống cùng nhà với bà T2; vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, vợ chồng đã không còn sống chung với nhau.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Việc vắng mặt của bị đơn là cố tình nên đề nghị xét xử vắng mặt đương sự theo các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn, nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án. Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là cố tình nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông K có hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo đơn xin ly hôn, bà T yêu cầu ly hôn với ông K; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thu T1, sinh ngày 31/01/2010, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Quá trình tố tụng, bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn, nuôi con chung.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông K chung sống với nhau từ năm 2009, hôn nhân là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Hôn nhân giữa bà T và ông K đã thực hiện đúng thủ tục quy định nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn gia đình phát sinh từ năm đầu năm 2024; ông K không chăm sóc vợ con và vợ chồng bà T đã ly thân hơn 01 năm nay; bà T đưa con về nhà ba mẹ ruột sinh sống tại ấp D, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Khi bà T thông báo là đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án thì ông K nói muốn làm gì thì làm, không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông K cố tình vắng mặt, điều này thể hiện bị đơn không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông K theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà T và ông K có 01 con chung tên Nguyễn Thu T1, sinh ngày 31/01/2010. Bà T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu T1 có nguyện vọng được sống cùng với mẹ nên Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Bà T xác định không tranh chấp, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà T không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa cũng như nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Bà T tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 19, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 107 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Tuấn K.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thu T1, sinh ngày 31/01/2010. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Tuấn K cấp dưỡng nuôi con chung.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0007255 ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ