vanban.org

Bản án 35/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị T T 18 tháng tù. Thới hạn tù tính từ ngày 24/11/2023. Về dân sự: Không Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35 /2024/HSST
Ngày: 05/03/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân

1) Ông Chu Bá Hữu

2) Bà Nguyễn Thị Cúc

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên-Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng – Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/HSST/2024, ngày 30 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Phạm Thị T T, sinh năm 1977. HKTT và chỗ ở: Số nhà X, ngõ Y, tổ Z, phường Ngọc T, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Quèc tÞch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phạm Bá Chiến (đã chết). Con bà: Chu Thị Thìn sinh năm 1953. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là thứ hai. Có 01 con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000752 lập ngày 03/12/2023 tại Công an quận Long Biên và lý lịch bị can thể hiện bị cáo có tiền án: Bản án số 133 ngày 21/5/2018, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Chấp hành xong hình phạt về địa phương ngày 04/10/2022. Bị cáo chưa được xóa án tích. Phạm tội lần này là Tái phạm.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/11/2023 đến 01/12/2023, tạm giam từ ngày 03/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

1. Anh Vũ Trường G sinh năm 1989. Trú tại: Số X phố Ngọc Lâm, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1997.

Trú tại: Số X ngõ Y, tổ Z phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

( Chị M vắng mặt tại phiên tòa)

2. Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 2005. Trú tại: Thôn T, xã Dương H, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.

(Chị L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

3. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1996. Trú tại: Tổ X, phường V, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

(Chị T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

4. Chị Vũ Kim O sinh năm 1997 Trú tại: X Lạch Tray, phố Hàng K, quận Lê Chân, Thành phố H Phòng.

(Chị O có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

5. Chị Phạm Hoài T sinh năm 2000 Trú tại: Số X ngõ Y Hàm T, phường Chương D, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

(Chị T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

1. Anh Phạm Bá H sinh năm 1974. Trú tại: Số X, tổ Y, phường Ngọc T, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

Anh H có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có công ăn việc làm nên Phạm Thị T T ( Sinh năm 1977; HKTT: Tổ X 09, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội) nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để có tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/11/2023, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda WaveRS không gắn biển kiểm soát một mình đến cửa hàng bán quần áo trẻ em tại địa chỉ 273 Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội với mục đích nếu cửa hàng có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi vào cửa hàng T gặp chị Nguyễn Thị Mi ( Sinh năm 1997, HKTT: Tổ 4, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội, là quản lý của cửa hàng) hỏi mua quần áo trẻ em gồm: 04 (bốn) bộ quần áo ngủ Size 55/60/65 cotton màu hồng, 07 (bảy) bộ quần áo ngủ size 90-130, 02 (hai) bộ quần áo màu hồng, 01 bộ ngủ size 12-12, 02 (hai) bộ size 80-120 và 03 (ba) bộ 85/90/95. Chị M cho tổng số quần áo trên vào túi nilon màu đen, T bỏ ra khoảng 8.500.000đ ( Tám triệu năm trăm nghìn đồng) để T toán cho chị M , tại đây T nói với chị M “ Để chờ đứa em đến hỏi vay tiền của T còn lại bao nhiêu tiền thì T sẽ T toán tiền quần áo trên”. Chị M thấy vậy đi vào ăn cơm, lúc này T đã lợi dụng sơ hở của chị M , lén lút xách túi quần áo trên đi ra xe máy của T , nổ máy đi. Chị M nhìn ra cửa thấy T xách túi quần áo nhưng chưa T toán tiền vì vậy đã chạy theo T và hô hoán truy đuổi. Ngay lúc này, chị Nguyễn Thị T ( Sinh năm 1996; HKTT: Tổ 8, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội, là chủ cửa hàng giầy xinh) tại địa chỉ 31/154 Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội gần cửa hàng của chị M đi ra nhìn thấy và cùng chị M giữ T lại. Lúc này chị T giật khẩu trang của T ra thì nhận ra T chính là người đã lấy trộm 01 chiếc điện thoại Iphone 13Promax, 256G ngày 22/11/2023 tại cửa hàng của chị T . Sau đó, chị M và chị T giữ T lại và báo lực lượng Công an phường Ngọc Lâm đến lập biên bản sự việc, đưa T cùng tài sản liên quan về trụ sở Công an phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội để làm rõ. Quá trình làm việc, T khai nhận hành vi trộm cắp quần áo ngày 24/11/2023 và đã viết đơn xin đầu thú về hành vi trộm cắp điện thoại tại cửa hàng 31/154 Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội ngày 22/11/2023 nêu trên.

Tang vật thu giữ của Phạm Thị T T gồm:

- 02 (hai) bộ cotton xuất Nhật Ninanxi 80-120/5-13

- 03 (ba) Bộ DT QkeLkeko bo gấu 85/90/95

- 07 (bảy) bộ Cotton DT các mẫu Yixtg 90-130

- 02 (hai) Set bộ SN gấu 1195

- 01 bộ quần cotton DT Sweet đại 5/5-13/14

- 04 (bốn) bộ cotton QKELE cc55/60/65.

- 01 (Một) điện thoại di động Iphone 13 Pro max màu xanh dung lượng 256 GB, số IMEI: 356287128446146, IMEI2: 356287128888370 đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động iphone XSMax màu đen dung lượng 256 GB, số IMEI: 357288090458886 đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động iphone 7Plus màu đen dung lượng 128 GB, số IMEI: 353820086799057 đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động iphone 8 Plus màu vàng hồng dung lượng 64 GB, số IMEI: 352977097414299 đã qua sử dụng

- 01 (một) điện thoại di động Nokia 6700 classic màu vàng, số seri: 353790048075021 đã qua sử dụng.

- Số tiền : 8.470.000đ ( Tám triệu bốn trăm bẩy mươi nghìn đồng)

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS ( Không gắn biển kiểm soát) đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 230 ngày 29/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận:

- 02 (hai) bộ cotton xuất Nhật Ninanxi 80-120/5-13 số tiền là 396.000đ (Ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

- 03 (ba) Bộ DT QkeLkeko bo gấu 85/90/95 số tiền là 525.000đ ( Năm trăm hai mươi năm nghìn đồng).

- 07 (bảy) bộ Cotton DT các mẫu Yixtg 90-130 số tiền là 1.596.000đ (Một triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

- 02 (hai) Set bộ SN gấu 1195 số tiền là 290.000đ (Hai trăm chín mươi nghìn đồng).

- 01 bộ quần cotton DT Sweet đại 5/5-13/14 các mã số tiền là 298.000đ ( Hai trăm chín mươi tám nghìn đồng).

- 04 (bốn) bộ cotton QKELE cc 55/60/65 số tiền là 820.000đ (Tám trăm hai mươi nghìn đồng).

Tổng trị giá tài sản là: 3.925.000 đồng ( Ba triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Cơ quan CSĐT - CAQ Long Biên đã tiến hành ghi lời khai của anh Vũ Trường G ( Sinh năm 1989; HKTT: TDP Bình Thắng, TT Bình Mỹ, Bình Lục, Hà Nam là chủ cửa hàng bán quần áo Changkiss ( Địa chỉ: Số 273 phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội) xác định ngày 05/8/2023 anh G có làm hợp đồng lao động thuê chị Nguyễn Thị Mi ( Sinh năm 1997; HKTT: Tổ 4, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội) làm quản lý bán quần áo trẻ em cho anh G . Anh G đã ủy quyền để chị M giải quyết vụ án trên trong thời gian điều tra, truy tố, xét xử.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lí vật chứng, trả lại cho người được ủy quyền là chị Nguyễn Thị Mi tòan bộ số quần áo do Phạm Thị T T trộm cắp, thu hồi được. Chị M đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác và đề nghị xử lí T theo qui định của pháp luật.

Quá trình điều tra mở rộng vụ án Cơ quan điều tra còn làm trong khoảng thời gian từ ngày 19/11/2023 đến ngày 24/11/2023, T đã nhiều lần thực hiện các vụ trộm cắp, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 19/11/2023 Phạm Thị T T điều khiển xe máy nhãn Honda WaveRS không gắn biển kiểm soát đến cửa hàng bán túi xách “WEI” tại số 363 phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội thì thấy một người phụ nữ mà sau này xác định là chị Nguyễn Ngọc L (SN: 2005, HKTT: Thôn Trung, Dương Hà, Gia Lâm, Hà Nội, là nhân viên ) để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus, màu hồng, loại 64G ở quầy T toán tiền. T đến hỏi chị L mua túi, yêu cầu chị L tìm túi xách theo nhu cầu của T . Khi chị L quay vào trong tìm túi, không để ý quan sát điện thoại T dùng tay lấy chiếc điện thoại của chị L cho vào túi xách của mình rồi bỏ đi. Tại cơ quan điều tra T khai đã bán chiếc điện thoại trên cho một nam giới không rõ nhân thân lai lịch được 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) và đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện chưa thu hồi được tang vật.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus, màu hồng, loại 64G của chị Nguyễn Ngọc L. Tại bản kết luận định giá tài sản (Định giá bổ sung) số 230/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 kết luận: Chưa đủ điều kiện định giá do tài sản chưa được thu hồi, không có hóa đơn mua và không có tài liệu về thông số kỹ thuật.

Về dân sự: Chị Nguyễn Ngọc L yêu cầu bị can T bồi thường chiếc điện thoại Iphone 6Plus (đã qua sử dụng) chưa thu hồi được trị giá khoảng 1.000.000đ và đề nghị xử lý bị can theo quy định của pháp luật. Bị can T đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị L nhưng chưa bồi thường.

Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/11/2023 Phạm Thị T T điều khiển xe máy trên đến cửa hàng “Giầy xinh TH” tại số 31/154 phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội thì thấy một người phụ nữ mà sau này xác định là chị Nguyễn Thị T (SN: 1996, HKTT: Tổ 8, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội, là chủ cửa hàng) để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Promax, màu xanh, có đeo ốp lưng màu tím, 256G ở quầy T toán. T đến hỏi chị T mua giầy, khi chị T mải T toán tiền với khách, không để ý quan sát điện thoại T dùng tay lấy chiếc điện thoại của chị T cho vào túi xách của mình rồi bỏ đi. Sau khi lấy trộm được điện thoại, T tháo sim vứt đi còn điện thoại T cất trong túi xách. Khi bị bắt giữ, Cơ quan công an đã thu giữ được 01 chiếc điện thoại Iphone 13Promax, màu xanh, có đeo ốp lưng màu tím, 256G là tài sản của chị T

Tại bản kết luận định giá tài sản số 229/KL-HĐĐGTS ngày 24/11/2023 kết luận: Iphone 13 Promax, 256G trị giá: 18.000.000 đồng ( Mười tám triệu đồng).

Về dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lí vật chứng, trả lại cho chị Nguyễn Thị T 01 điện thoại Iphone 13 Promax. Chị T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác và đề nghị xử lí T theo qui định của pháp luật.

Vụ thứ ba: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/11/2023 Phạm Thị T T điều khiển xe máy trên đến cửa hàng bán quần áo tại số 69 phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội thì thấy một người phụ nữ mà sau này xác định là chị Vũ Kim O ( SN: 1997, HKTT: nhà số 38A/46 Lạch Tray, phường Hàng Kênh, Lê Chân, H Phòng, là chủ cửa hàng) để một túi xách bên trong có 70.000đ ( Bảy mươi nghìn đồng) và 01 chùm chìa khóa ở quầy T toán. T đến hỏi chị O mua quần áo, khi chị O mải T toán tiền với khách, không để ý quan sát, T dùng tay lấy túi xách của chị O rồi bỏ đi. T đã vứt túi xách, chùm chìa khóa đi còn số tiền 70.000 đ T đã tiêu xài hết. Hiện Cơ quan điều tra không thu hồi được vật chứng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc túi xách của chị O . Tại bản kết luận định giá tài sản (Định giá bổ sung) số 230/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 kết luận: Chưa đủ điều kiện định giá do tài sản chưa được thu hồi, không có hóa đơn mua và không có tài liệu về thông số kỹ thuật.

Đối với số tiền có trong túi xách, tại Cơ quan điều tra lời khai của T phù hợp với lời khai của chị O nên đủ cơ sở để kết luận T đã trộm cắp của chị O số tiền là 70.000đ.

Về dân sự: Chị Vũ Kim O không yêu cầu Phạm Thị T T bồi thường đối với số tài sản mà T đã trộm cắp của chị. Chị O đề nghị xử lí T theo qui định của pháp luật.

Vụ thứ tư: Ngày 23/11/2023 Phạm Thị T T điều khiển xe máy trên đến cửa hàng bán quần áo tại số 222 phố Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội thì thấy một người phụ nữ mà sau này xác định là chị Phạm Hoài T (SN: 2000, HKTT: nhà số 11/114/18 Hàm Tử Quan, phường Chương Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội, là nhân viên cửa hàng) để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax để ở quầy T toán. T đến hỏi chị T mua quần áo, khi chị T mải T toán tiền với khách, không để ý quan sát điện thoại T dùng tay lấy chiếc điện thoại của chị T cho vào túi xách của mình rồi bỏ đi. Sau khi trộm cắp được điện thoại, T tháo sim vứt đi và cất điện thoại vào trong túi xách. Khi bị bắt giữ, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 chiếc điện thoại Iphone XSmax, 256G là tài sản của chị T .

Tại bản kết luận định giá tài sản (Định giá bổ sung) số 230/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone XSmax, 256G trị giá: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

Về dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lí vật chứng, trả lại cho chị Phạm Hoài T 01 điện thoại Iphone XS max. Chị T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác và đề nghị xử lí T theo qui định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Phạm Thị T T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm

Bị cáo Phạm Thị T T khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Bá H trình bầy: Bị cáo có nhờ anh bồi thường trả cho chị Nguyễn Ngọc L thay cho bị cáo 1.000.000 đồng. Anh đã trả cho chị L số tiền này và chị L đã nhận không có ý kiến yêu cầu gì nữa. Anh không yêu cầu bị cáo pH trả anh số tiền này. Anh đề nghị Tòa án trả lại anh số tiền mà cơ quan Công an thu giữ của bị cáo T vì đây là tiền của anh gửi chị T .

Đại diện Viện kiểm nhân dân quận Long Biên sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời luận tội và đề nghị như sau:

Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Phạm Thị T T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt.

Về dân sự: Các bị hại nhận lại tài sản không có yêu cầu gì phần dân sự do vậy không xem xét giải quyết.

Đề nghị áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo chiếc điện thoại iphone 8 Plus; điện thoại di động Nokia 6700 classic màu vàng và chiếc điện thoại di động iphone 7Plus ; Trả lại anh H 01 Chiếc xe mô tô mang BKS: 30F4-3926, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS, màu sơn đỏ đen bạc và số tiền 8.470.000đ ( Tám triệu bốn trăm bẩy mươi nghìn đồng) vì các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo T sau khi nghe quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận đã có hành vi Trộm cắp tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/11/2023, tại cửa hàng “Giầy xinh TH” tại số 31/154 phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội, bị can Phạm Thị T T có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Promax, màu xanh, có đeo ốp lưng màu tím, 256G trị giá 18.000.000 đồng ( Mười tám triệu đồng chẵn) của chị Nguyễn Thị T.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/11/2023, tại cửa hàng bán quần áo tại số 69 phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội, bị can Phạm Thị T T có hành vi trộm cắp 01 túi xách bên trong có 70.000 đồng ( Bảy mươi nghìn đồng) của chị Vũ Kim O.

Ngày 23/11/2023, tại cửa hàng bán quần áo tại số 222 phố Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội, bị can Phạm Thị T T có hành vi trộm cắp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax, 256G trị giá 7.000.000 đồng ( Bảy triệu đồng) của chị Phạm Hoài T.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/11/2023, tại cửa hàng bán quần áo trẻ em tại địa chỉ 273 Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội, Phạm Thị T T có hành vi trộm cắp quần áo trẻ em với tổng giá trị tài sản là 3.925.000 ( Ba triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Mi.

Tổng giá trị tài sán bị cáo chiếm đoạt là: 28.995.000đ ( Hai mươi tám triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng)

Hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sư: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo có tiền án. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm này bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả đối với chị L . Bị cáo có đơn đầu thú một trong các hành vi mà bị cáo đã thực hiện; bị cáo hiện đang mắc bệnh HIV. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại bản án số 133 ngày 21/5/2018, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử bị cáo 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Chấp hành xong hình phạt về địa phương ngày 04/10/2022. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo, theo quy định của tại khoản 1 Điều 53 là tái phạm. Bị cáo đã thực hiện nhiều hành vi trộm cắp vào các ngày 22; 23; 24 tháng 11 năm 2023. Đây là các tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

.Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần pH áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thu nhập không ổn định, tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại, do vậy thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, chị O không yêu cầu bị cáo pH bồi thường 70.000 đồng. Tất cả không có yêu cầu gì về phần dân sự do vậy không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus, màu hồng, loại 64G của chị Nguyễn Ngọc L. Tại bản kết luận định giá tài sản (Định giá bổ sung) số 230/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 kết luận: Chưa đủ điều kiện định giá do tài sản chưa được thu hồi, không có hóa đơn mua và không có tài liệu về thông số kỹ thuật. Chị Nguyễn Ngọc L yêu cầu bị cáo T bồi thường chiếc điện thoại Iphone 6Plus (đã qua sử dụng) chưa thu hồi được trị giá khoảng 1.000.000đ. Bị cáo T đã bồi thường, chị L đã nhận 1.000.0000 đồng và không yêu cầu gì về phần dân sự do vậy không xem xét giải quyết.

. Xử lý vật chứng: Không

. Các vấn đề khác:

Đối với chiếc xe máy Honda Wave không đeo biển kiểm soát tạm giữ của Phạm Thị T T, quá trình điều tra đã xác định được: Chiếc xe mô tô mang BKS: 30F4-3926, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS, màu sơn đỏ đen bạc, số máy HC12E0503474, số khung RLHHC12278Y501124 đăng ký đứng tên anh Phạm Bá H sinh năm 1974; HKTT: Tổ 4, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội, là trai của T . Anh H khai cho T mượn chiếc xe trên để sử dụng, anh H không biết T mượn để đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Kết quả giám định số khung, số máy là nguyên T . Kết quả tra cứu vật chứng, không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do vậy thấy cần trả lại cho anh H .

Đối với chiếc điện thoại di động iphone 7Plus tạm giữ của Phạm Thị T T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã làm rõ chiếc điện thoại di động này là của chị Phạm Triệu Vy sinh năm 2001; HKTT: Tổ 4, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội, cháu ruột của T đã cho T . Xác định đây là tài sản của bị cáo. Do vậy thấy cần trả lại cho bị cáo.

Đối với chiếc điện thoại iphone 8 Plus và điện thoại di động Nokia 6700 classic màu vàng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo do vậy thấy cần trả lại cho bị cáo.

Đối với Số tiền 8.470.000đ ( Tám triệu bốn trăm bẩy mươi nghìn đồng) là tiền T cầm hộ anh trai Phạm Bá H, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo do vậy thấy cần trả lại cho anh H .

Bị cáo pH chịu án phí hình sự, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 106, 135, 299, 326, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị T T 18 tháng tù. Thới hạn tù tính từ ngày 24/11/2023.

2. Về dân sự: Không

3. Về xử lý vật chứng: Không

4. Các vấn đề khác:

Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại iphone 8 Plus mầu vàng hồng; 01 điện thoại di động Nokia 6700 classic màu vàng và chiếc điện thoại di động iphone 7Plus mầu đen;

Trả lại cho anh Phạm Bá H: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RS (không gắn biển kiểm soát) đã qua sử dụng

Tất cả hiện đang lưu tại Chi Cục thi hành án dân sự theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2024.

Trả lại anh Phạm Bá H 8.470.000 đồng hiện đang lưu tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/01/2024.

Về án phí: Bị cáo pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ