vanban.org

Bản án 35/2024/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HSST
Ngày 26/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Xuân – Giáo viên nghỉ hưu

2. Ông Trịnh Thanh Bình – Bí thư Đoàn Thanh niên huyện Tiên Du

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm theo hình thức công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 26/12/2024, đối với bị cáo:

Lò Thị Thương, sinh năm 1992;

Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: thôn Phúc Nghiêm, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lò Văn Phong (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nhâm, sinh năm 1968; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Đặng Văn Mạnh, sinh năm 1991; con: 04 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/9/2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn GOPOD GROUP Việt Nam

Địa chỉ: Lô H2-1-1, Khu công nghiệp Đại Đồng – Hoàn Sơn, xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Liao ZhuoWen, địa chỉ: Lô H2-1-1, Khu công nghiệp Đại Đồng – Hoàn Sơn, xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Nguyễn Thị Vân Lanh, sinh năm 1989; Hộ khẩu thường trú: xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc; sinh năm 1989; Hộ khẩu thường trú: Thôn Thu Thuỷ, xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Người làm chứng: Đặng Thu Hà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/08/2024, Đồn Công an khu Công nghiệp Tiên Sơn tiếp nhận đơn tố giác của chị Nguyễn Thị Vân Lanh, sinh năm 1989, có hộ khẩu thường trú (HKTT) ở xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH GOPOD GROUP Việt Nam có địa chỉ ở Lô H2-1-1, KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn thuộc địa phận xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh về việc: Ngày 27/8/2024, sau khi kiểm tra camera trong kho đã phát hiện công nhân công ty đột nhập vào kho trộm cắp 22 thanh thiếc để trong hộp trị giá 18.537.000 đồng.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo Lò Thị Thương khai nhận: Bị cáo là công nhân (dán tem củ sạc) tại Công ty TNHH GOPOD GROUP Việt Nam theo Hợp đồng lao động số VN000039/HĐLĐ/2024 ngày 23/6/2024. Trong quá trình làm việc tại Công ty, Thương đã từng vào trong kho điện tử nghỉ trưa nên biết trong kho có để các thanh thiếc trên các giá và biết được đến buổi trưa kho sẽ không có ai nên Thương đã nảy sinh ý định trộm cắp các thanh thiếc để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và trang trải cuộc sống. Trong thời gian từ ngày 23/7/2024 đến 19/8/2024, Thương đã 04 lần trộm cắp các thanh thiếc trong kho điện tử của Công ty, cụ thể:

* Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 23/07/2024, lợi dụng lúc công nhân nghỉ trưa và đi ăn cơm, trong kho điện tử lúc này không có ai, Thương đã lẻn vào trong kho rồi tiến đến các giá để đồ trong kho điện tử. Thấy trên tầng hai của giá để đồ ký hiệu T01-03 có để các hộp đựng thanh thiếc vỏ bìa làm bằng bìa cát tông, Thương bóc vỏ ngoài của bìa cát tông mở hộp ra lấy 05 thanh thiếc để ra ngoài sau đó Thương lại đóng hộp lại để vào vị trí cũ. Để tránh bị phát hiện Thương nhét các thanh thiếc này vào trong bụng (gài qua cạp quần) rồi trùm áo đồng phục của công ty đang mặc ra bên ngoài, sau đó đi vào trong nhà vệ sinh để cất giấu trong thùng rác trong phòng vệ sinh. Đến khoảng 17 giờ 00 phút, khi tan làm Thương đi ra nhà vệ sinh lấy các thanh thiếc cât giấu vào trong người với cách thức như trên rồi đi ra nhà xe lấy xe đi về. Trên đường về Thương rẽ vào quán thu mua sắt vụn ở thôn Đông, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du do chị Nguyễn Thị Ngọc, sinh năm 1989 HKTT tại thôn Thu Thuỷ, xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội làm chủ. Tại đây, Thương đặt vấn đề bán các thanh thiếc và chị Ngọc đồng ý mua với giá 700.000đ/một thanh thiếc. Chị Ngọc đưa cho Thương số tiền 3.500.000 đồng. Số tiền trên, Thương đã chi tiêu cá nhân hết.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 91 ngày 16/09/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Tiên Du, kết luận: 05 thanh thiếc hợp kim loại 01kg/thanh, KT (32,5x2,5x2) cm. Tài sản chưa qua sử dụng. Có giá trị là: 05 thanh x 01kg/thanh x 842.592đ/kg= 4.212.960 đồng (làm tròn: 4.213.000 đồng)

* Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 25/07/2024 với thủ đoạn như trên Thương tiếp tục trộm 05 thanh thiếc tầng hai của giá để đồ ký hiệu T01-03. Đến khoảng 20 giờ 00 phút, khi tan làm Thương đi ra nhà vệ sinh lấy các thanh thiếc đút vào trong bụng như lúc Thương lấy trộm ban đầu sau đó đi ra nhà xe lấy xe đi về nhà. Trên đường về Thương lại rẽ vào quán thu mua sắt vụn của chị Ngọc để bán thì quán đóng cửa, Thương đi loanh quanh khu vực này để tìm chỗ bán thì gặp một người phụ nữ lạ mặt khoảng ngoài 50 tuổi đi xe đạp thu mua sắt vụn dạo ở trên đường nên Thương gọi lại và bán các thanh thiếc đã lấy trộm được số tiền là 3.500.000 đồng. Số tiền trên Thương cũng chi tiêu cá nhân hết.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 92 ngày 16/09/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Tiên Du, kết luận: 05 thanh thiếc hợp kim loại 01kg/thanh, KT (32,5x2,5x2) cm. Tài sản chưa qua sử dụng. Có giá trị là: 05 thanh x01kg/thanh x842.592đ/kg= 4.212.960 đồng (làm tròn: 4.213.000 đồng)

* Vụ thứ ba: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 14/08/2024 với thủ đoạn như trên Thương tiếp tục trộm 05 thanh thiếc giá để trên giá đồ ký hiệu T01-05 rồi mang đi bán cho chị Ngọc được 3.500.000 đồng. Số tiền trên, Thương đã chi tiêu cá nhân hết.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 90 ngày 16/09/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Tiên Du, kết luận: 05 thanh thiếc hợp kim loại 01kg/thanh, KT (32,5x2,5x2) cm. Tài sản chưa qua sử dụng. Có giá trị là: 05 thanh x 01kg/thanh x842.592đ/kg= 4.212.960 đồng (làm tròn: 4.213.000 đồng)

* Vụ thứ 4: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/08/2024 tranh thủ lúc công nhân tăng ca đi ăn với thủ đoạn như trên Thương lén lút trộm 07 thanh thiếc giá để đồ ký hiệu T01-05. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi tăng ca xong Thương đi vào nhà vệ sinh lấy các thanh thiếc giấu vào trong người rồi đi về. Trên đường về Thương rẽ vào cửa hàng sắt vụn của chị Ngọc để bán nhưng quán vẫn đóng cửa, Thương lại đi loanh quanh khu vực này và gặp một người phụ nữ lạ mặt khoảng ngoài 40 tuổi đi xe đạp thu mua sắt vụn dạo ở trên đường, Thương gọi lại và bán số thanh thiếc này được 4.500.000 đồng. Số tiền trên, Thương đã chi tiêu cá nhân hết.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 93 ngày 16/09/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Tiên Du, kết luận: 07 thanh thiếc hợp kim loại 01kg/thanh, KT (32,5x2,5x2) cm. Tài sản chưa qua sử dụng. Có giá trị là: 07 thanh x01kg/thanh x842.592đ/kg= 5.898.144 đồng (làm tròn: 5.898.000 đồng).

Tại Cáo trạng số 162/CT-VKSTD ngày 30/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố Lò Thị Thương về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo nhận tội và khai nhận: Trong các ngày 23/7/2024, 25/7/2025, 14/8/2024 và 19/8/2024, tại Công ty TNHH GOPOD GROUP Việt Nam, Lò Thị Thương đã lén lút 4 lần trộm cắp 22 thanh thiếc trong kho điện tử của Công ty với trị giá là 18.537.000 đồng. Sau khi lấy trộm được các thanh thiếc trên Thương đã bán được số tiền 15.400.000 đồng và số tiền trên Thương đã chi tiêu cá nhân hết. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Ngày 23/7/2024, Thương trộm cắp 05 thanh thiếc trị giá 4.213.000 đồng và bán cho chị Ngọc được số tiền 3.500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Ngày 25/7/2024, Thương trộm cắp 05 thanh thiếc trị giá 4.213.000 đồng và bán cho một người phụ nữ không quen biết được số tiền 3.500.000 đồng.

Vụ thứ ba: Ngày 14/8/2024, Thương trộm cắp 05 thanh thiếc trị giá 4.213.000 đồng và bán cho chị Ngọc được số tiền 3.500.000 đồng.

Vụ thứ tư: Ngày 19/8/2024, Thương trộm cắp 07 thanh thiếc trị giá 5.898.000 đồng và bán cho một người phụ nữ không quen biết được số tiền 4.500.000 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại chị Nguyễn Thị Vân Lanh trình bày: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho công ty, mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về tội danh: Lò Thị Thương phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lò Thị Thương từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Tiên Du, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở khẳng định: Trong các ngày 23/7/2024, 25/7/2025, 14/8/2024 và 19/8/2024, tại Công ty TNHH GOPOD GROUP Việt Nam, Lò Thị Thương đã lén lút 4 lần trộm cắp 22 thanh thiếc trong kho điện tử của Công ty với trị giá là 18.537.000 đồng. Sau khi lấy trộm được các thanh thiếc trên Thương đã bán được số tiền 15.400.000 đồng và số tiền trên Thương đã chi tiêu cá nhân hết. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Ngày 23/7/2024, Thương trộm cắp 05 thanh thiếc trị giá 4.213.000 đồng và bán cho chị Ngọc được số tiền 3.500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Ngày 25/7/2024, Thương trộm cắp 05 thanh thiếc trị giá 4.213.000 đồng và bán cho một người phụ nữ không quen biết được số tiền 3.500.000 đồng.

Vụ thứ ba: Ngày 14/8/2024, Thương trộm cắp 05 thanh thiếc trị giá 4.213.000 đồng và bán cho chị Ngọc được số tiền 3.500.000 đồng.

Vụ thứ tư: Ngày 19/8/2024, Thương trộm cắp 07 thanh thiếc trị giá 5.898.000 đồng và bán cho một người phụ nữ không quen biết được số tiền 4.500.000 đồng.

Do vậy, có đủ căn cứ xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở về quản lý tài sản của bị hại để chiếm đoạt tài sản. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, làm xấu đi hình ảnh người lao động Việt Nam đối với doanh nghiệp nước ngoài. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần được xử phạt nghiêm. Việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, trước khi diễn ra phiên tòa bị cáo đã nộp 200.000 đồng đảm bảo thi hành án nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về vật chứng: Đối với 22 thanh thiếc mà Thương trộm cắp sau đó đã bán lại cho chị Ngọc, chị Ngọc đã bán lại cho người không biết tài sản trên là tài sản trộm cắp và 02 người phụ nữ không quen biết, Cơ quan điều tra truy tìm đến nay chưa thu hồi được.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 12/9/2024, Thương đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho Công ty số tiền 18.300.000 đồng. Chị Vân Lanh đại diện Công ty đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bị cáo Thương phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Thương.

[7] Liên quan trong vụ án:

Đối với chị Ngọc - chủ quán thu mua phế liệu là người đã 02 lần mua tổng số 10 thanh thiếc của bị cáo Thương vào ngày 23/7/2024 và ngày 14/8/2024. Quá trình mua các thanh thiếc, bị cáo Thương không nói cho chị Ngọc biết các thanh thiếc trên là do bị cáo Thương trộm cắp mà có, cũng không hứa hẹn gì trước với bị cáo Thương nên không đủ căn cứ để xử lý chị Ngọc về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở chị Ngọc là đúng quy định pháp luật.

Đối với 02 người phụ nữ không quen biết đi xe đạp đã mua các thanh thiếc của bị cáo Thương vào các ngày 25/7/2024 và 19/8/2024. Khi thu mua không biết số thiếc trên do Thương trộm cắp mà có, chỉ dựa vào lời khai của bị cáo Thương chưa đủ căn cứ để xác minh con người cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị Thương phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1, Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lò Thị Thương 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Không

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lò Thị Thương phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xác nhận bị cáo Lò Thị Thương đã nộp đủ số tiền án phí theo biên lai số 0001261 ngày 26/12/2024.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án hoặc Quyết định có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ