vanban.org

Bản án 35/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Bình pham tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày 25 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án A Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần Phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố D, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1990 tại tỉnh An Giang; thường trú: Không; chỗ ở: Số F đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm hồ; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1968; có vợ tên là Trần Thị G, sinh năm 1985 và 02 người con, lớn sinh năm 2020 và nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Ngày 21/9/2021 Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Bản án số 211/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/11/2021, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm và chưa nộp lại số tiền 700.000 đồng để sung quỹ nhà nước; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2023 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Lê Anh V, sinh năm 1986; thường trú: Số H, đường D, khu dân cư D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh B, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1970, thường trú: Số F khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đ; chổ ở: Số G khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đ, vắng mặt.

2. Bà Hồ Ngọc T, sinh năm 1981; thường trú: Số B H, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 15/9/2023 Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Darling, số loại 100-LFA, màu nâu, gắn biển số: 60F1-570.70 đi từ phòng trọ tại địa chỉ số F đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh B đến trước bãi đất trống trên đường D, thuộc khu dân cư D, khu phố T, phường T, Nguyễn Văn B phát hiện bên trong rào lưới B40 có một xe tải và một số vật dụng không có người trông coi. B đột nhập vào bên trong lấy trộm một máy bơm mỡ nhãn hiệu Yilan, màu đỏ; một máy hàn nhãn hiệu BOSS; một máy bơm rửa xe nhãn hiệu Yasu YS 1600; một máy bơm hơi loại 1,5 ngựa nhãn hiệu Btes của anh Lê Anh V. Sau đó, B để những máy móc đã chiếm đoạt được lên xe mô tô B điều khiển theo. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 15/9/2023 Công an phường T tuần tra phát hiện B có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. B đã tự khai nhận các đồ vật, tài sản để trên xe môtô nêu trên là tài sản do B chiếm đoạt trái phép của người khác nên Công an phường T đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú và đưa B cùng tang vật về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Darling, số loại 100-LFA, màu sơn nâu, số khung ES1004000989, số máy 1P50FMG310423802, biển số 60F1-570.70; 01 máy bơm mỡ nhãn hiệu Yilan, màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 máy hàn nhãn hiệu BOSS (đã qua sử dụng); 01 máy bơm rửa xe nhãn hiệu Yasu YS 1600 (đã qua sử dụng); 01 máy bơm hơi loại 1,5 ngựa nhãn hiệu Btes (đã qua sử dụng).

Theo Kết luận định giá tài sản số 162/BBĐG-HĐĐGTS ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh B kết luận 01 máy bơm mỡ nhãn hiệu Yilan (đã qua sử dụng) trị giá 500.000 đồng; 01 máy hàn nhãn hiệu BOSS (đã qua sử dụng) trị giá 750.000 đồng; 01 máy bơm rửa xe nhãn hiệu Yasu YS 1600 (đã qua sử dụng) trị giá 500.000 đồng và 01 máy bơm hơi nhãn hiệu Btes (đã qua sử dụng) trị giá 1.050.000 đồng. Tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 2.800.000 đồng.

Quá trình tố tụng, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận định giá tài sản số 162/BBĐG-HĐĐGTS ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh B.

Bản Cáo trạng số 40/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Darling, số loại 100-LFA, màu nâu, số khung ES1004000989, số máy 1P50FMG310423802 bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội là tài sản hợp pháp của chị Hồ Ngọc T với số đăng ký biển số 52F1-0454. Chị T xác định đã bán xe trên cho một người không rõ nhân thân lai lịch, không làm hợp đồng mua bán và không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay không có ai đến nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Biển số 60F1-570.70 gắn trên xe mô tô nhãn hiệu Darling, số loại 100-LFA, màu nâu, số khung ES1004000989, số máy 1P50FMG310423802 bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội: Qua xác minh thể hiện biển số trên được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH Mode, màu đỏ trắng, số khung JF51E0106838, số máy RLHJF5108DY106797 thuộc sở hữu của bà Trịnh Thị L. Hiện tại, bà L vẫn đang sử dụng biển số 60F1-570.70 gắn trên xe của bà. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần tịch thu tiêu hủy đối với biển số 60F1-570.70.

- Đối với 01 (một) máy bơm mỡ nhãn hiệu Yilan, màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) máy hàn nhãn hiệu BOSS (đã qua sử dụng); 01 (một) máy bơm rửa xe nhãn hiệu Yasu YS 1600 (đã qua sử dụng); 01 (một) máy bơm hơi loại 1,5 ngựa nhãn hiệu Btes (đã qua sử dụng) là tài sản hợp pháp của anh Lê Anh V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho anh V.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Anh V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm về dân sự không đặt ra.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa nhưng không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt không rõ lý do. Xét, sự vắng mặt của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú ngày 15/9/2023; Kết luận định giá tài sản số 162/BBĐG-HĐĐGTS ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh B và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 15/9/2023 tại số H đường D, khu dân cư D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh B, bị cáo Nguyễn Văn B lén lút chiếm đoạt một máy bơm mỡ nhãn hiệu Yilan, màu đỏ; một máy hàn nhãn hiệu BOSS; một máy bơm rửa xe nhãn hiệu Yasu YS 1600; một máy bơm hơi loại 1,5 ngựa nhãn hiệu Btes có tổng giá trị là 2.800.000 đồng của bị hại anh Lê Anh V.

Như vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản do bị hại sở hữu, quản lý hợp pháp có giá trị 2.800.000 đồng mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 40/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh B truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 211/2021/HS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/11/2021, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm và chưa nộp lại số tiền 700.000 đồng để sung quỹ nhà nước nên chưa được xóa án tích. Nay tiếp tục phạm tội mới do cố ý thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình tố tụng bị cáo Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, khi Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu thể hiện bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật. Do đó cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Xét bị cáo xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, đồng thời bị cáo là người có nhân thân xấu, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đối với 01 (một) máy bơm mỡ nhãn hiệu Yilan, màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) máy hàn nhãn hiệu BOSS (đã qua sử dụng); 01 (một) máy bơm rửa xe nhãn hiệu Yasu YS 1600 (đã qua sử dụng); 01 (một) máy bơm hơi loại 1,5 ngựa nhãn hiệu Btes (đã qua sử dụng) là tài sản của bị hại anh Lê Anh V nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho bị hại là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Darling, số loại 100-LFA, màu sơn nâu, số khung ES1004000989, số máy 1P50FMG310423802 là tài sản hợp pháp của bà Hồ Ngọc T đứng tên chủ sở hữu với số đăng ký biển số 52F1-0454. Quá trình làm việc, bà T xác định đã bán xe này đã bán cho một người không rõ nhân thân, lai lịch và không làm hợp đồng mua bán xe, hiện bà không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan và cũng không yêu cầu gì đến chiếc xe này. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã tiến hành thông báo tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến liên hệ. Do đó, cần tịch thu xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Darling, số loại 100-LFA, màu sơn nâu, số khung ES1004000989, số máy 1P50FMG310423802 sung ngân sách nhà nước.

Đối với biển số xe 60F1-570.70: Qua xác minh biển số trên được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH Mode, màu đỏ trắng, số khung JF51E0106838, số máy RLHJF5108DY106797 của bà Trịnh Thị L. Hiện bà L vẫn đang sử dụng biển số xe này. Xét, bị cáo sử dụng biển số xe này thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo xác định biển số xe này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy biển số xe 60F1-570.70 đã thu được.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho ông V, ông V không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo B là có phần nghiêm khắc, bởi mặc dù bị cáo B có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, tuy nhiên, bị cáo có đến 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS và giá trị tài sản chiếm đoạt chỉ có 2.800.000 đồng. Do đó Hội đồng xét xử quyết định xử mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số xe 60F1F-570.70.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Darling, số loại 100-LFA, màu nâu, số khung ES1004000989, số máy 1P50FMG310423802, dung tích xi lanh: 97cm3, loại xe hai bánh từ 50-175cm3.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố D).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật/.

Cỡ chữ