- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội Hiếp dâm - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Hiếp dâm" và tội "Cướp tài sản". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù về tội "Hiếp dâm" và 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Cướp tài sản". Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành chung của hai tội là 06 …
- Căn cứ chính? Điều 55 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HS- ST Ngày: 07- 3- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Thu.
2. Bà Nguyễn Thị Thùy Liễu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Tâm- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST- HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 02 năm 2024; đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1993 tại Lạng Sơn; ĐKHKTT: Thôn A, xã N, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: …., phường H, TP. Hạ Long,tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H (đã chết) và bà Triệu Thị M; vợ Hoàng Thị L có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2023 đến nay (hiện đang bị tạm tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Duy Hiển -Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- Người bị hại: Chị Lê Thị H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức Đ; chị Vũ Thị H; chị Nguyễn Thị Vân A; chị Nguyễn Thị H;
(Những người làm chứng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 20/8/2023, chị Lê Thị H đi ô tô khách tuyến Sơn Dương- Tuyên Quang- Quảng Ninh để đến Công ty Sumidenso ở Khu công nghiệp Đại An- Tp. Hải Dương làm thủ tục thanh toán bảo hiểm. Khoảng 17 giờ cùng ngày, chị H xuống xe tại khu vực cửa hàng bán xăng, dầu thuộc địa phận Tp. Chí Linh, tỉnh Hải Dương để tiếp tục đi xe ô tô khách đến Tp. Hải Dương. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, khi chị H đang đứng đợi xe ô tô khách thì Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 98B1- 962.92 (xe mượn của em trai là Nguyễn Trường G- sinh năm 2002 ở Thôn A- xã N- huyện Bắc Sơn- tỉnh Lạng Sơn) đi đến hỏi chị H đi đâu, chị H nói đi thành phố Hải Dương thì H bảo sẽ cho chị H đi nhờ một đoạn, chị H đồng ý. Trên đường đi, H rủ chị H vào nhà chị Nguyễn Thị H (là cô họ của H) chơi và ăn cơm tại đó, chị H đồng ý. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở chị H đi đến Tp. Hải Dương, đi được 01 đoạn thì thấy có cánh đồng vắng người, H nảy sinh ý muốn quan hệ tình dục nên đã rủ chị H vào nhà nghỉ, chị H không đồng ý, H nói nếu không vào nhà nghỉ thì trả H số tiền 300.000 đồng tiền xe ôm, chị H bảo H chở đến chỗ có máy rút tiền để rút tiền trả cho H. Lúc này, H nói “Vào nhà nghỉ anh chỉ ôm thôi” rồi dùng tay ôm vào người chị H, thì chị H chạy ra chặn 01 ô tô đang đi trên đường để đi nhờ nhưng không được. H bảo chị H ngồi lên xe để H chở đi rút tiền. H điều khiển xe mô tô chở chị H đi đến đường Tản Đà (cạnh bờ đê sông Thái Bình) thuộc phường Nhị Châu, Tp. Hải Dương rồi dừng lại. Tại đây, H yêu cầu chị H trả tiền xe, chị H sử dụng điện thoại OPPO truy cập ứng dụng Banking vào tài khoản 103875587370 của Ngân hàng Viettinbank chuyển đến tài khoản 1008773289519 của H số tiền 300.000 đồng. Khi đó, H dùng tay ôm vào người chị H,chị H dùng răng cắn vào ngực dưới bả vai trái của H, H dùng tay phải tát 02 phát vào má bên trái của chị H, tiếp đó H dùng tay kéo khoá túi xách đang đeo trên người giả vờ lấy dao để đe doạ chị H “nếu hét lên thì sẽ đâm chết rồi vứt xác ở đây không ai biết”, biết H muốn cưỡng ép phải quan hệ tình dục, chị H xin H để chị H về, H không đồng ý thì chị H nói “Em đang đến tháng (thời kỳ kinh nguyệt) và em đang bị bệnh” thì H nói không phải rồi dùng tay cởi cúc quần, tụt quần của chị H đang mặc, chị H lấy tay giữ lại thì H doạ sẽ giết chị H nếu chị H không cho H quan hệ tình dục. Do sợ hãi, chị H để H tụt cả quần dài, quần lót mà chị H đang mặc rồi H bế chị H ngồi lên yên xe môtô theo tư thế dạng chân, mặt quay hướng đầu xe máy. Sau đó, H tự tụt quần của H xuống đến đầu gối, ngồi lên yên xe trong tư thế dạng chân ngược chiều ngồi với chị H và đẩy chị H nằm ngửa người trên yên xe. Thấy chị H đang đeo ba lô, túi xách và mặc áo vải (loại áo chống nắng), H yêu cầu chị H bỏ ba lô, túi xách ra đưa H, chị H không đồng ý thì H dọa “có tin tao đâm mày không”, chị H sợ hãi thì H dùng tay cởi áo chống nắng vắt ở đầu xe môtô, lấy ba lô và túi xách của chị H ra treo ở hai bên tay ga xe môtô. Tiếp đó, H dùng tay nhấc 02 chân của chị H để lên 02 tay của H rồi đút dương vật vào âm đạo của chị H để giao cấu. Khi H đang giao cấu với chị H, thì chị Hiền gọi điện thoại cho H hỏi về nhà chưa, H nói đang nghỉ rồi tắt máy. H tiếp tục giao cấu với chị H khoảng 05 phút thì anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1985 ở Khu 3, phường Nhị Châu, Tp. Hải Dương, tỉnh Hải Dương điều khiển ôtô biển số 15A- 743.18 đi đến. Do sợ bị phát hiện, H rút dương vật ra và doạ chị H ngồi im. Thấy có ánh đèn xe ô tô, chị H đã nhảy xuống xe, chạy đến chỗ xe ô tô, vỗ lên thành xe cầu cứu, anh Đ dừng xe lại thì H kéo quần lên rồi điều khiển xe môtô bỏ chạy về hướng ngã tư Bến Hàn mang theo tài sản của chị H là 01 ba lô màu đen bên trong có quần áo, 01 túi xách màu đen bên trong có 01 điện thoại OPPO, 01 ví da màu hồng có đăng ký xe mô tô, giấy tờ tùy thân, thẻ ngân hàng và số tiền 320.000 đồng. Anh Đ điều khiển xe ô tô đuổi theo H nhưng không đuổi kịp. Quá trình bỏ chạy về phòng trọ ở khu 1, tổ 10, phường Hà Trung, Tp. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, H đã lấy 60.000 đồng của chị H ra đổ xăng còn số tiền 260.000 đồng, 01 điện thoại di động, 03 thẻ ATM, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe của chị H, H mang về phòng trọ cất giấu. Đối với số tài sản của chị H gồm: 01 balo bên trong có quần áo, 01 túi xách, 01 ví da màu hồng, H đã vứt trên đường bỏ chạy (không nhớ vị trí) nên không thu giữ được.
Ngày 20/8/2023, chị Lê Thị H có đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an TP. Hải Dương yêu cầu khởi tố Nguyễn Văn H theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an TP. Hải Dương đã tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ chất màu đỏ nâu nghi máu, 01 chiếc kính nam, 02 mảnh nhựa kẹp tóc màu vàng nhạt, 01 áo vải (loại áo chống nắng) và 01 khẩu trang.
Ngày 21/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an Tp. Hải Dương tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H ở Khu 1, tổ 10, phường Hà Trung, Tp. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thu giữ: 01 căn cước công dân số 044195008345 cấp ngày 12/7/2021, 01 giấy phép lái xe số 261230003490 cấp ngày 27/6/2023, 01 thẻ ATM số 9704 150143117516 của Ngân hàng Vietinbank, 01 thẻ ATM số 9704222092304492 của Ngân hàng MB, 01 thẻ ATM số 9704162201072327 của Ngân hàng ACB đều mang tên Lê Thị H; 01 thẻ ATM số 9704150136414227 của Ngân hàng Vietinbank mang tên Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng lắp sim số 0865.788.818; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen lắp sim số 0862.907.161 và số 0946.427.736, 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter biển số 98B1- 962.62, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 107934 cấp ngày 29/01/2014 mang tên Trần Văn H ở Bãi Sim, Tân Hưng, Lạng G, Bắc G; 01 túi đeo màu đen hiệu CG kích thước (13 x 18) cm loại túi khoá kéo có 02 ngăn và số tiền 260.000 đồng. Cùng ngày, H đã giao nộp 01 chiếc quẩn lửng chất liệu vải bỏ màu xám đen có bám dính chất màu nâu (nghi là máu), 01 quần lót nam màu ghi, 01 áo phông cộc tay màu đen; chị H giao nộp 01 áo sơ mi nữ cộc tay màu hồng, 01 áo lót nữ màu đen, 01 quần dài nữ màu đen, 01 quần lót nữ màu đen cho Cơ quan CSĐT Công an Tp. Hải Dương.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 17 ngày 29/8/2023 của Trung tâm pháp y- Sở Y tế Hải Dương kết luận: Bộ phận sinh dục ngoài, môi lớn, môi bé, âm hộ, H môn không tổn thương. Màng trinh khi nâng hai môi lớn đường kính lỗ màng trinh khoảng 40mm, có điểm rách cũ ở vị trí 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ, 4 giờ, 6 giờ, 8 giờ, 9 giờ, sâu khoảng 2-4mm, không có điểm rách mới. Trong âm đạo có ít huyết thâm dạng máu kinh, không tìm thấy xác tinh trùng. Tại thời điểm giám định chị H không có thai. Vết bầm tím nhẹ vùng gò má bên trái. Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y về tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Lê Thị H tại thời điểm giám định là: Không có mục xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra với tổn thương này.
Tại bản kết luận giám định số 6200 ngày 29/8/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Trên chiếc quần ghi thu giữ của đối tượng Nguyễn Văn H có bám dính máu người là máu của Lê Thị H. Các dấu vết màu nâu nghi máu ghi thu ở vùng 1 và 4 tại hiện trường là máu người do chất lượng dấu vết kém, lượng dấu vết ít nên không xác định được kiểu gen.
Tại bản kết luận giám định số 6295 ngày 30/8/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Trên chiếc quần lót nữ và trong mẫu ghi dịch âm đạo thu của Lê Thị H không có tinh trùng người. Trong mẫu ghi dịch âm đạo thu của Lê Thị H không có ADN của Nguyễn Văn H. Trên chiếc quần lót nữ có ADN của nhiều người, do ADN bị lẫn nên không xác định được kiểu gen của từng người, không đủ điều kiện để xác định có ADN của Nguyễn Văn H hay không.
Tại bản kết luận định giá số 52 ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND thành phố Hải Dương kết luận: Giá trị 01 điện thoại Oppo A53 là 1.975.000 đồng; 01 ba lô màu đen, loại 03 ngăn, khoá kéo, chất liệu vải kích thước (30x25) cm có 02 quai đeo sau lưng, không có nhãn hiệu, do Trung quốc sản xuất là 109.632 đồng; 01 túi xách nữ màu đen, 02 ngăn, khoá bấm, chất liệu giả da, kích thước (20 x 10)cm là 77.760 đồng; 01 ví nữ màu hồng kích thước (10 x 7), nắp gập khoá bấm, chất liệu giả da, không nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất là 57.375 đồng; chi phí làm lại 02 sim điện thoại là 50.000 đồng; chi phí cấp lại giấp phép lái xe hạng A1 là 135.000 đồng; chi phí cấp lại căn cước công dân là 35.000 đồng; chi phí cấp lại thẻ ATM của ngân hàng Vietinbank, ACB, MB là 150.000 đồng. Tổng giá trị là 2.589.767 đồng (Hai triệu năm trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng).
Tại cáo trạng số 27/CT - VKSTPHD ngày 29-01-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội "Hiếp dâm" theo khoản 1 Điều 141 của Bộ luật Hình sự (BLHS) và tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: VKSND thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Hiếp dâm" và tội "Cướp tài sản". Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 141; khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của BLHS; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS; xử phạt bị cáo H từ 02 năm 9 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Hiếp dâm”; từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt của 02 tội từ 06 năm 03 tháng đến 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 21/8/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với cả 02 tội; Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết; Về vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Trường G 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 98 B1-962.92 (kèm theo đăng ký xe mô tô); Trả lại cho bị cáo H 01 túi chất liệu giả da màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng lắp sim số 0865.788.818; 01 thẻ ATM; Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kính nam; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen; 01 quần lót nam màu ghi; 01 chiếc quần lửng chất liệu vải bò chất liệu vải bò màu xám đen; Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo;
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dương là đúng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
-Người bị hại chị Lê Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị HĐXX xử đúng quy định pháp luật đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần, đối với thiệt hại trị giá 301.767 đồng chị tự nguyện cho bị cáo.
Người làm chứng anh Nguyễn Đức Đ, chị Vũ Thị Hương, chị Nguyễn Thị Vân Anh; chị Nguyễn Thị Hiền vắng mặt tại phiên tòa có lời khai trong hồ sơ như nội dung vụ án và phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trạng, biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, biên bản nhận dạng, lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 20/8/2023, tại đường Tản Đà (cạnh đê sông Thái Bình) thuộc khu đô thị Âu Việt, phường Nhị Châu, Tp. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn H đã dùng tay tát, đe doạ giết để buộc chị Lê Thị H giao cấu trái ý muốn với H. Sau đó, H đã chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Oppo, 01 ba lô màu đen, 01 túi xách nữ màu đen, 01 ví nữ màu hồng và số tiền 320.000 đồng của chị H. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.539.767 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, sức khỏe, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của chị H. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì để thỏa mãn dục vọng cá nhân nên bị cáo đã dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn đối với chị H, sau đó chiếm đoạt tài sản của chị H thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 1 Điều 141 của BLHS và tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 của BLHS.
Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt và đấu tranh phòng ngừa chung. Áp dụng khoản 1 Điều 55 BLHS tổng hợp thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản có giá trị, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo cả hai tội.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần; thiệt hại tài sản trị giá 301.767 đồng chị H cho bị cáo, nên HĐXX không xem xét và giải quyết
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 260.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Oppoo màu xanh đen lắp sim số 0862.907.161 và số 0946.427.736; 02 mảnh nhựa kẹp tóc màu vàng nhạt; 01 áo vải (loại áo chống nắng); 01 chiếc quần dài nữ; 01 quần dài nữ; 01 quần lót nữ; 01 áo lót nữ; 01 áo sơ mi cộc tay; 03 thẻ ATM; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên chị Lê Thị H, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương đã trả lại cho chị H là phù hợp. Đối với xe môtô hiệu Yamaha Exciter biển số 98B1-962.92 (kèm theo đăng ký xe mô tô) là tài sản hợp pháp của anh G, anh G không biết việc H sử dụng xe mô tô thực hiện hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho anh G. Túi chất liệu giả da màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng lắp sim số 0865.788.818; 01 kính nam; 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Văn H; 01 áo phông cộc tay màu đen; 01 quần lót màu ghi; 01 chiếc quần lửng chất liệu vải bò màu xám đen là tài sản hợp pháp của bị cáo H không liên quan tới hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo H xác định 01 kính nam; 01 áo phông cộc tay màu đen; 01 quần lót màu ghi; 01 chiếc quần lửng chất liệu vải bò màu xám đen không còn giá trị sử dụng nên đề nghị cho tiêu hủy, nên cần tịch thu cho tiêu hủy 01 kính nam; 01 áo phông cộc tay màu đen; 01 quần lót màu ghi; 01 chiếc quần lửng chất liệu vải bò màu xám đen
Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 141; khoản 1 Điều 168; điểm s (đối với cả hai tội) khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của BLHS; điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47; khoản 3 Điều 106 BLTTHS; Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Hiếp dâm" và tội "Cướp tài sản". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù về tội "Hiếp dâm" và 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Cướp tài sản". Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành chung của hai tội là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 21/8/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Trường G 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 98B1-962.92 (kèm theo đăng ký xe mô tô); Trả lại cho Nguyễn Văn H 01 túi chất liệu giả da màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng lắp sim số 0865.788.818; 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Văn H; Tịch thu cho tiêu hủ 01 chiếc kính nam; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen; 01 quần lót nam màu ghi; 01 chiếc quần lửng chất liệu vải bì màu đen. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 21/02/2024).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; anh G có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; -VKSND thành phố Hải Dương; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan T.H.A. HS - Công an thành phố Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Hồ sơ nghiệp vụ- Công an thành phố Hải Dương; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Người bào chữa; - Trại giam Công an tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Tú |